Chương 1 Dực Tông (1847 - 1883)
Phạm Văn Sơn

Dực Tông (1847 - 1883)

 

 

 

- Vua Tự Đức tình thế nước ta giữa thế kỷ XIX

 

- Vic ngoại giao cấm đạo

 

- Vic văn hc binh chế

 

- Hai v đảo chính

 

- Cuc kinh của De Montigny

 

 

 

 

1- Vua Tự Đức tình thế nước ta giữa thế kỷ XIX

 

Vua Thiệu Trị sau bảy năm ở ngôi thì hết s. Trưc khi chết Ngài cử ông hoàng Hồng Nhậm là con thứ lên kế vị. Hồng Bảo tuy là con cnng bị gạt b ông này ham chơi bời, phóng đãng không đưc cảm tình ca vua cha.

 

Hng Nhậm c lên ngai vàng vào tháng 10 năm Đinh Tị (1847) tại điện Thái Hòa, lấy niên hiệu Tự Đức. Lúc bấy giờ nhà vua mi 19 tuổi, nhưng ngài đã hc nhiều. thể nói rằng ngài mt ông vua "từ chương" nhất ca triều Nguyễn, th mẹ rất hiếu, tính tình điềm đạm, giản dị. Đi vi quc sự ngài rất chăm chỉ không bỏ sót mt việc nào dầu nhỏ nhặt. Ngài làm ra ba tập Ngự Chế Thi Văn. Thập Điều Tự Hc Diễn Ca và Luận Ngữ Diễn Ca. Hai tập sau tính cách giáo dc cho hoàng gia dân chúng.

 

Phò ngài bấy giờ các ông Trương Đăng Quế, Vũ Trng Bình, Hoàng Diu, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản những bề tôi tận tâm tận trung nhưng đi vi nhiều biến c hết  sức ln lao đi bấy giờ thì vua Tự Đức cũng như triều thần rõ rệt là không đủ tài đủ sức để đảm đương s mạng đi vi quc dân lịch sử. Quả vậy, các nưc Âu Châu thuở đó đi vi dân ta nói riêng, đi vi các c Á Đông nói chung đã tiến c quá xa. Họ tổ chức hội rất qui c, làm ra đưc nhiều máy móc tinh xảo để phc vụ đi sng hàng ngày, đóng đưc tàu bè, xe c, tha hồ nc xuôi năm châu bn bể, chế tạo ra máy điện máy c cùng thuận tiện, lại biết làm các súng


 

 

đạn hết sức li hại. Nh vậy kỹ nghệ, kinh tế, thương mại ca họ phát đạt cùng, sản phẩm đủ thứ đưc đem bán. Còn ta thì thiếu sót hẳn cái hc thực tế cái thuật phú quốc ờng binh, bi không biết trông xa thấy rng, ai ai cũng ch cho rng c Tàu là mạnh, tự cho mình văn minh còn ngưi Tây Phương là man, mi r. Gii trí thức do cái t chương, c nghiệp đào tạo luôn luôn ng rằng thơ hay phú gii đ, bàn đến việc đi, việc nưc thì ch biết đem các chuyện c c Tàu ra làm mực thưc. Thng hoặc có ngưi đã qua các nưc Âu Châu đem chuyện văn minh, khoa học ca họ ra bàn thì cho ngy ngôn, tà thuyết. Đó trường hp các ông Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Trường T, Nguyễn Điều đã đi du hc Tây phương năm Bính Dần (1866) tr về dâng lên nhiều bản điều trần xin canh cải c nhà, hòng theo dịp các c tân tiến thu y, nhưng chẳng chịu nghe cả.

 

Năm Mậu Thìn (1868) tức năm Tự Đức XXI ông Đinh Văn Điền Ninh Bình đã dâng s xin nhà vua khai m vàng, lập dinh điền, mở cửa cho ngưi ngoại quc vào buôn bán, thao luyện quân đi, thêm ơng cho sĩ tt, bt sưu thuế cho dân v.v... Tnăm Kỷ Mão (1879) đến năm Tân Tỵ (1881) ông Nguyễn Hiệp đi s Tiêm La, ông Lê Đĩnh đi s ơng Cảng cũng đều trình việc Tiêm La lập điều ưc giao hảo vi các c Anh, Pháp, Ý, Phổ khôn ngoan, nh đó Tiêm không b họ gây s hiếp chế, ai cũng quyền li. Tàu, Nhật cũng hc theo Tây Phương nên đã bãi bỏ các công cuộc bài ngoại. Nhưng khi đem ra duyệt nghị, lòng t ái cũng n do s u mê, các quan đại thần ca vua Dực Tông đều cho rằng các việc đã trình bày không hp thi, ri kiếm cớ bác b đi. Tới khi c Pháp đem binh hùng, ng mạnh vào Việt Nam, chiếm đánh từ lc tỉnh ra ti Bắc d dàng như vào chỗ không ni, ch khổ đám dân đem làm mi cho súng đạn c mất vẫn hoàn mất. Còn đám ngưi lãnh đạo bấy giờ mi thấy mình bất tài, bất lực, hi hận rằng mình ươn hèn, lạc hậu thì đã muộn.

 

 

2- Vic ngoại giao cấm đạo

 

Cũng theo đường li ca hai triều Minh Mạng Thiệu Trị, vua Dực Tông khưc từ mi việc giao thiệp vi các c ngoài, dầu việc giao thiệp chỉ mc đích thương mại. Năm Canh Tuất (1850) năm Tự Đức th ba, tàu M Li Kiên vào cửa Hàn quc thư xin thông thương không đưc tiếp nhận. Ri từ năm 1955 trên hai chc năm sau nữa các nưc Anh, Pháp, Tây Ban Nha nhiều lần tàu vào cửa Hàn, cửa Thị Nại Quảng Yên xin mua bán vi dân ta cũng không đưc.

 

Sau này Gia Định lt vào tay Pháp, việc ngoại giao vi các c Tây Phương khó khăn, nhà vua mi thay đi chính sách ri đặt ra Bình Chuẩn Ty để coi việc buôn bán và Thượng Bạc Viện để giao dịch vi các ngưi ngoại ơng, nhưng các ngưi đưcy thác vào các việc này chng biết cả, bi họ đâu đưc học ngoại giao điện thoại bao giờ...

 

Vua Tự Đức lên ngôi, đi vi việc truyền đạo Thiên Chúa bui đầu không gay gắt lắm tuy đã ban hành d cấm đạo. Dụ này nói rng ni ngoại quc nào giảng đạo sẽ bị xử tử hình, các linh mc Việt Nam không bỏ đạo sẽ bị khắc ch vào mặt ri phải đày đi các nơi lam chưng, còn dân chúng ngu mui thì các quan phải răn bảo chớ không đưc chém giết.


 

 

Nhưng khi việc ông hoàng Hồng Bảo âm mưu gây cuc đảo chính bị thất bại, vua Tự Đức thấy bàn tay ngoại quc mật nhúng vào bên trong, lại cuc thảo luận giữa các đảng viên phiến loạn vi các giáo sĩ nên ngài cho thi hành ráo riết sắc d ngày

21.3.1851 xử tử hình tất cả các giáo Âu Châu Việt Nam trên khắp lãnh thổ c nhà. Các giáo dân khi ấy bị coi như đng lõa vi quân phản nghịch. Augustin

Schoeffer mt giáo sĩ mi 29 tui bị chém Sơn Tây ngày 1.5.1851, năm sau

Jean-Louis Bonnard cũng phải trảm quyết ở ngoài Bắc rất nhiều giáo dân nữa.

 

Năm 1855, mt đạo dụ khác ra đi cay nghiệt n trng thưởng những ai bắt đưc các giáo tố cáo đưc các giáo dân, do đó mà Pháp cùng Tây Ban Nha ít năm sau nắm đưc cơ hi dùng vũ lực ra mặt xâm chiếm c ta.

 

 

3- Vic văn hc binh chế

 

Vua Tự Đức mt ông vua hay chữ nhất ca họ Nguyễn. Ngài rất trng Nho hc, chăm về việc học hành, sửa sang việc thi cử. Ngài đặt Nhã sĩ khoa Cát sĩ khoa để lấy ngưi ra làm quan. Ngài lập Tập Hiền Viện Khai Kinh Viện cũng n vua Thánh Tông lập ra Tao Đàn để cùng các quan bàn sách v, ngâm thơ phú hay thảo luận chính trị. Do lệnh ngài, bộ Khâm Đnh Việt S đưc biên soạn gm các việc từ đi Hng Bàng đến hết đi Hậu Lê...

 

Năm Tự Đức th XIV (1861) triều đình truyền cho các tỉnh lựa ngưi khe mạnh ra làm lính Sanh. Năm Ất Sửu (1865) có kỳ thi tiến sĩ. Việc đưc xúc tiến bi trong c nhiều cuc phiến loạn xảy ra, nhưng tổ chức binh chế, việc huấn luyện vẫn theo lề li c truyền chỉ nh ng trong việc đi ni thôi. Còn đi vi cơ gii hóa chiến c chiến pháp ca ngoại quc rệt hiệu. Bấy giờ ta ch súng điểu thương cũ phải châm ngòi đạn mi nổ (súng này l súng ha mai ta còn thưng thấy các vùng ng, Thổ gần đây). Trong mi đi 50 ngưi chỉ 5 ngưi đưc dùng súng này. Súng đã ít, việc tập bắn lại ít hơn. Mi năm chỉ bắn mt lần, mi ngưi lính chỉ đưc bắn 6 phát đạn. Ai bắn quá s này phải bi thưng. Còn súng đại bác ca ta đã nổ rất chậm lại hay hng. Trái lại, lúc này súng đại bác ca ngưi Tây Phương rất li hại, súng trường nạp hậu, các đạn ca ta ch là trò trẻ. Tình trng quân s hèn kém, chính tr hủ bại như thế tự mình rưc lấy sự bại vong ri còn kêu ca vào đâu nữa.

 

 

4- Những vụ phiến động trong nước

 

Vua Dực Tông lên ngôi đưc ba năm (1850) đã cử những danh thần làm Kinh c Đại S để đi khám xét công việc quân dân các khu vực trong nưc. Tỉ d: Nguyễn Tri Phương phụ trách x Nam Kỳ, Phan Thanh Giản coi ba tỉnh miền Nam Trung Việt, Nguyễn Đăng Giai kiểm soát ba tỉnh phía Bắc miền Trung. Nhưng từ năm Tân Hi trở đi (1851) giặc nổi lên nhiều nơi, nhất Bắc Kỳ. Ta thấy rệt lòng dân đây còn tưởng nhớ đến nhà nên đã dấy động để phá chánh quyền nhà Nguyễn. Có vài vụ loạn ngưi cầm đầu xưng mình thuc dòng dõi nhà Lê, đã lôi cun đưc khá nhiều nhân dân. Ngoài ngưi trong c phá trật tự an ninh, lại còn giặc Tàu tràn sang. Bn này thuc dư đảng Thái Bình Thiên Quc do Hng Toàn t chức chống lại nhà


 

 

Thanh bị bại chạy qua c ta. Chúng cưp phá các vùng thượng du khiến quan quân ta phải đi đánh dẹp vất vả. Đã thế dân còn phải chịu nhiều thiên tai như lt li, vỡ đưng liên miên. Đê Văn Giang thuc tỉnh Hưng Yên vỡ luôn 18 năm thì miền Nam Trung Châu nơi đông n nhất sao khi đưc ri loạn. Đây cũng mt trong nhiều nguyên nhân phát sinh ra nhng vụ phiến động ca đng bào Bắc Kỳ, nếu không có mc đích chính trị.

 

Cũng trong năm này giặc Tam Đưng do ba lãnh t: Quảng Nghĩa Đường, Lc Thng Đường, Đức Thng Đưng hoành hành tại Thái Nguyên đưc quan Kinh c Nguyễn Đăng Giai đến phủ dụ nên đất Bắc đưc yên n mt thời. Đến năm Giáp Dần (1854) Nguyễn Đăng Giai mất, Bắc Kỳ lại mất an ninh, trật tự n cũ.

 

Bấy giờ Sơn Tây mt ngưi tôn phò Lê Duy C con cháu nhà lên làm minh chủ. Cạnh Cự Cao Quát làm quc sư. Quát sinh làng Phú Thụy, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Đổ cử nhân, giữ chức giáo th phủ Quc Oai tỉnh Sơn Tây. Ông này là mt trí thức thông minh bậc nhất đi bấy giờ nên đã đưc tôn "thần Siêu, thánh Quát" đã có thơ ca ngi tài ca ông:

 

Văn n Siêu, Quát tiền Tấn

Thi đáo Tùng, Tuy thất thnh Đường115

 

Con ngưi tài này chẳng may tính kiêu ngông nên b quan lại đương thời ghen ghét, vậy không bưc cao đưc trên thang danh vọng. Lại nữa, ông thấy vua quan thu đó hủ bại nên ý bất mãn, do đó mà tay kiếm tính xây dựng lại thi thế.

 

Tháng Chạp năm ấy phó lãnh binh Sơn Tây Thuận dánh bắt đưc Cao Quát ri đem về chém tại làng. V khi nghĩa ca Duy C bùng ra cui năm ấy vào khoảng tháng 5 thì châu chấu phá hoại mùa màng dữ di nên ngưi ta gi vụ loạn này giặc châu chấu. Ông Quát chết ri, bn Duy C còn hoạt đng thêm đưc vài năm nữa. V Cao Quát không th gi mt đám giặc tầm thường vì mt đảng cách mạng ch trương lật đổ chính quyền nhà Nguyễn bi nó không cưp ca giết ngưi như những vụ loạn khác.

 

Kế tiếp "giặc châu chu" vụ Lê Duy Minh do tên T Văn Phụng mạo ng dòng dõi h cùng vi ngưi đạo trưng (trùm đạo Thiên Chúa) tên Trường dấy động ở miền Quảng Yên vào tháng Chạp năm Tân Dậu (1861). Phụng đã làm lính m cho liên quân Pháp - Tây Ban Nha khi trung tưng Charner ra đánh Quảng Nam.

 

Lúc này tại Bắc Ninh cai tng Nguyễn Văn Thịnh tức cai tng Vàng đã ớng nghĩa ni danh mt thời khắp xứ Bắc. Thịnh lập tên Uẩn cũng xưng con cháu nhà lên làm minh ch kết liên vi Phụng đánh phủ Lạng Giang, huyện Yên Dũng và Bắc Ninh nhiều phen rất nguy ngập. Để trừ bn Phng và Thịnh không những quan quân tại đa phương còn c quân Kinh, quân Thanh Ngh ra tiễu trừ i quyền chỉ

 

 

 

 

 

115 Tùng, Tuy đây là Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương, cả hai đều là chú vua Dực Tông và ni tiếng thơ hay văn gii.


 

 

huy ca các đại thần n hình bộ thưng thư Trương Quc Dng làm Hải An tổng đc, Sơn-Hưng-Tuyên tổng đc Nguyễn Nghi, tham tán quân vụ Đào Trí v.v...

 

Vụ loạn này cũng tính cách chính tr kéo dài đưc 4 năm (1861-1865). Sau đó có cả Nguyễn Tri Phương làm Tây Bắc tng thống quân vụ đại thần ra tiếp sức. Bấy giờ lại nhiều đảng giặc khác hoạt động Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bng vừa ngưi Tàu vừa ngưi Th. Đã lần Phng cho ngưi vào Nam Kỳ điều đình vi thiếu ng Bonnard đem quân ra giúp, hứa nếu thành công s để cho Pháp bảo h, nhưng không xong lúc này Pháp còn lo củng c xứ này đang cần tạm thi sự hòa hảo vi triều đình Huế. Sau bn Phng chiếm miền duyên hải để tiện việc tiến thoái.

 

Cuối năm Quí Hi (1863), Phụng đã tổ chức đưc đạo thy quân gm 500 chiếc thuyền ngoài đảo Cát Đồ Sơn, tính đánh vào Huế, chẳng may bị bão; nhưng thế lực ca giặc đến năm Ất Sửu (1865) vẫn còn lớn. Đc binh Ông Ích Khiêm đưc cử sang thương nghị vi quân nhà Thanh ở Khâm Châu cùng tấn công thành Hải Ninh là căn c lt vào tay Phụng từ lâu. Phụng thua to, theo đường bể chạy vào Quảng Bình, Quảng Trị, sau bị bắt về Huế trị ti.

 

Sau việc Phụng đám giặc khách đánh đưc tỉnh Cao Bng. Quan kinh lưc

Trng Bình tuần phủ Phạm Chi Hương đem quân lên Lạng Sơn đánh dẹp, đến tháng

9 năm Ất Sửu mi yên.

 

Tính ra Bắc Kỳ mất trật tự luôn 15 năm, triều đình hao quân tn ng khá nhiều bởi miền Bắc quá ri loạn nên triều đình đã phải ký hòa ưc năm Nhâm Tuất (1862) để đưc rảnh tay đi phó vi loạn quân kể trên.

 

Trong khi miền Bắc đang nhiều cuc ri ren thì ngay ni bộ ca hoàng gia cũng nổi lên vài cơn giông t nữa, đó vụ âm mưu cưp ngôi ca Hồng Bảo cuc đảo chính ca ba anh em h Đoàn, con rTùng Thiện Vương.

 

 

Vụ Hng Bảo:

 

Như trên đã nói, An Phong Công Hồng Bảo con c nhưng thứ xuất (con vợ thứ) và kém phong độ nên không đưc lên ngôi. Vào năm 1851, ông sinh ý dùng bạo lực ca ngoại quc để đoạt lại ngai vàng.

 

Trong bức thư đề ngày 23.2.1851 in trong Annales de la Propagation de Foi, giám mc Pellerin nói rằng ông hoàng thất thế này đã điều đình vi những ni công giáo kinh thành để ủng hộ mình, hứa sẽ cho họ tự do hành đạo mt cách đắc ý. Các giáo hữu hi ý kiến giám mc, giám mc nói rằng tôn giáo không tán thành việc tham gia chính tr n việc truất ngôi vua. Ri cui tháng Giêng năm 1851, nhân ngày Tết Nguyên Đán, Hồng Bảo sửa soạn trn sang Tân Gia Ba, tính qua cầu viện ni Anh thì b bắt. Mt hôm ngưi ta thấy xuất hiện trên sông Hương mt chiếc tàu nh, còn ở ngoài cửa bể lân cận (chắc cửa Thuận An) mt chiết tàu ln nữa. Các nhà chức trách đã đến khám xét chiếc tàu nh. Thấy khí gii các thứ đạn c tích trữ trong tàu làm ngưi ta phải nghi rằng tàu này tính dùng vào việc đem Hồng Bảo thoát ra ngoại quc. Nếu n việc này xảy ra i đi Minh Mạng thì Hồng Bảo đã bị xử ti


 

 

lăng trì rồi, nng vi vua Tự Đức thì ch sự canh chừng thôi. Hồng Bảo định tự tử, may mấy kẻ đầu tớ ngăn cản kịp. Ri ông mặc áo chế, để đầu bù, ôm đứa con sáu tuổi vào đại ni khóc lóc thảm thiết. Ông trình bày vi vua Tự Đức ông không có ý trn khi hoàng thành gi ngưi ngoại quc về gây loạn để xa lánh nơi mi ngưi lìa bỏ ông, khinh bỉ ông bi lúc này ông nghèo khó. Giờ ông xin qua Pháp để sống mt cuộc đi thưng dân. Nhà vua tin li ri vỗ về ani ông, lại ban cho ông 100 thoi bạc và mt nén vàng cùng bảo ông không cần phải đi xa. Kẻ nào ý làm hại ông, vua sẽ trừng phạt cho.

 

Tuy đưc sự khoan hồng đặc biệt như vậy Hồng Bảo vẫn nuôi ý chí cưp ngôi ca em. Theo li thư viết năm 1855, cũng ca giám mc Pellerin, An Phong Công lại họp vi mt số ni bất đắc chí, nhiều cuồng vọng để tính đại s phen nữa. Họ uống máu ăn thề ri cho ngưi ra ngoại quc liên lạc vi các đng chí khác. Mt ngưi đã từ Tiêm La về, qua Cao Miên mang theo mt nhà sư cũng đảng viên nhưng đi đãi không đưc tử tế nên khi hai ngưi về ti ni đa Việt Nam, nhà sư liền tố cáo âm mưu chính tr ca bn Hồng Bảo. Các đảng viên ca Hồng Bảo bị bắt liền bị tra tấn, đã khai mi chi tiết về vụ mưu loạn kể cả chuyện cái tàu đậu ở bờ sông Hương chiếc tàu ngoài khơi không   quc tịch nào, tên khá đông ni Tiêm La, Trung Quc, Nam Kỳ c ni Âu Châu nữa. Đoàn ngưi này đi mãi không thấy ai đến liên lạc nên phải chạy ra khơi. Việc này đã làm náo động c kinh thành như sắp giặc. Các nhà cầm quyền phải ra nghiêm lịnh mi trấn nh đưc nhân tâm. Triều đình nghị án xử Hồng Bảo vào ti lăng trì, nhưng vua Tự Đức giảm xung án chung thân. Hồng Bảo đã dùng chiếc vải trải giưng thắt cổ chết cho khi nhc nhã. Con cháu phải đi họ Nguyễn sang họ Đinh họ mẹ tài sản bị tịch thu hết.

 

Thảm sử huynh đệ tương tàn ca anh em vua T Đức đến đây chưa là hết.

 

Giặc Chày Vôi: Năm Bính Dần (1886) là năm sau (T Đức th XIX), nhà vua cho xây Vạn Niên Cơ, tức Khiêm Lăng.n phu, binh sĩ phải phc dịch nhc nhn, vất vả. Đám ngưi này tất nhiên không khi s oán hận nhà vua. kinh bấy giờ ba anh em họ Đoàn: Đoàn Trung, Đoàn Hữu Ái Đoàn Tự Trực muốn ni lên lật đổ chính quyền đương thời. Họ khai thác ngay lòng căm hn ca dân chúng, li dụng họ làm công cụ cho cuc phản nghịch. Họ Đoàn kết liên đưc vi Trương Trng Hòa, Phạm ơng lập ra Đông Sơn Thi Tửu Hi để che dậy hành vi chính tr ca mình. H lấy danh nghĩa tôn phù Đinh Đạo con ông hoàng Hồng Bảo (trên đây đã nói đến). Như vậy ta thể hiểu rằng việc truất ngôi cửu n ca Hồng Bảo lẽ đã khiến mt phần nào nhân dân miền Trung bất mãn, bi lòng dân thường không ưa chuyện bỏ trưởng lập ấu đã gây nên nhiều biến c các dòng vua h chúa. luận ca mt vài ngưi tông thất họ Nguyễn cho rng động lực trong cuộc phản nghịch này mt phần do họ Đoàn mun mưu đồ phú quý, lại còn s trả thù cho Hồng bảo gây thanh thế cho Tùng Thiện Vương là nhạc ph ca họ Đoàn (Tùng Thiện Vương chú vua T Đức). Hồng Bảo xét ra lại hc trò bạn thân ca ơng An Công, em rut Tùng Thiện Vương nữa. Ý kiến này đã đưc ông Bửu Kế, tác giả bài "việc Hồng Bảo bị truất" in trong Nguyệt San Đại Hc số 8 ra tháng 3.1959. Theo chúng tôi, họ Đoàn thuc loại ngưi ngang tàng bất mãn vi chế đ, về pơng diện này hay phương diện khác mà ni lên, những điều mà ông Bửu Kế nói ra thể chỉ nguyên nhân ph thôi. Ri do uy tín ca Tùng


 

 

Thiện Vương, mt số võ quan, binh sĩ dân chúng đã dự vào cuc phản nghịch ca anh em họ Đoàn. Ta còn thng rằng chưa dễ Tùng Thiện Vương đã ngưi ngoại cuộc.

 

Bn họ Đoàn lấy chùa Pháp Vân làm nơi tụ hp chế tạo binh khí. Trong thành họ liên lạc đưc vi Tôn Thất Cúc giữ chức hữu quân đại ni làm vây cánh, bên ngoài họ có ngưi Khiêm Lăng tuyên truyền trong đám quân, dân kiến thiết i này qua hai câu:

 

Vạn Niên vạn niên nào?

 

Thành xây xương lính, hào đào máu dân

 

Ri ngày 8 tháng 9 năm Bính Dần, vào lúc canh ba nhóm phản nghịch kéo đến Khiêm ng bắt thống chế Nguyễn Văn Xa các quan chức ph trách việc xây Vạn Niên Cơ. Họ tuyên bố bãi bỏ công tác xây lăng, hào dân chúng v kinh thành h bệ đương kim hoàng đế và lập Đinh Đạo lên làm vua. Ai trái lnh sẽ xử tử ngay tại ch.

 

Đưc mt số ni tham dự thêm nên đoàn quân ca Đoàn Trưng lên ti chừng mt ngàn, họ mang ơm, giáo, đùi, gậy c chày giã vôi116 ri do cửa Nam họ kéo vào Ng Môn cưp thêm khí gii các kho Cẩm Y Kim Ngô. Tôn Thất Cúc mặt đây liền gia nhập đám phiến loạn. Thấy động, phó vệ úy Nguyễn Thanh và phó chỉ hy sứ Phạm Viết Trang đóng cửa chống nhau vi giặc. Lúc này nhà vua nằm cách chỗ quân phiến loạn đang phá phách chỉ mt bức ng. Chưng v Hồ Oai xông ra hăng hái n cả, kêu gi thị vệ và binh sĩ hết sức chiến đấu. Hai bên xô xát, bên phản nghịch yếu thế b chạy dần. Ít giờ sau Đoàn Trưng bị thương và hai anh em đều bị bắt. Những cánh quân khác kế tiếp đạo tiền phong cũng bị tan khi nghe tin anh em Đoàn Trưng đã lỡ việc.

 

S thất bại ca Đông Sơn Thi Tửu Hi không ngoài nguyên nhân thiếu s hậu thuẫn sâu rng trong dân chúng, t chức quân lực không đầy đ, s công phẫn ca nhóm quân dân tại Khiêm Lăng ch n ngn lửa rơm chóng bc chóng tàn, vậy vụ phiến đng chỉ ni lên đưc mt vài giờ ri bị dẹp tan ngay.

Sau vụ đại náo kinh thành này Đinh Đạo bị xử tử cả nhà, s ca triều Nguyễn117 chép rằng bn Đoàn Trưng đã "mưn tiếng phò Đinh Đạo", vậy thì vua Tự Đức đã làm đúng việc ca vua Minh Mạng chỉ mi nghe Lê Văn Khôi tung li tuyên ngôn phò con hoàng tử Cảnh mà đã giết cả nhà ch dâu lẫn cháu rut (bấy giờ gia đình đông cung Cảnh đang cả tại Huế trong khi đó vụ loạn tại Gia Đnh). Ngày nay ngưi ta cho rng cái án Đinh Đạo hoàn toàn giống cái án Cao Nhạ, nó chỉ ý nghĩa i mt chế độ hà khắc ca đám ngưi tàn bạo thôi...

 

 

 

 

 

116 Do đó sau này vụ lon này được gi là gic chày vôi.

117 Sử liệu dùng để viết bài này trích Quc Triều Chánh Biên Toát Yếu, Khâm Định Việt Sử, Tiểu Sử Trn Tiến Thành của Đào Duy Anh, Tùng Thiện Vương của Ưng Trình Annalles de la Propagation de la Foi của Hi truyền giáo người ngoi quc.


 

 

Cùng mt nhịp vi vụ phản nghịch kinh thành, nhiều vụ loạn khác cũng ni lên làm cho triều đình ca vua Tự Đức thêm ri. Tại Quảng Ngãi giặc Đá Vách quấy nhiễu dân chúng. Quan tiễu phủ Nguyễn Tấn đánh dẹp mãi mi yên. Ngoài Bắc giặc Khách lại liên tiếp ni lên, đó đảng ca Hng Toàn (Thái Bình Thiên Quc) thất bại bên Tàu đưc Ngô Côn dẫn sang cưp phá các tỉnh miền Thưng du Trung du. Triều đình phải nhờ quân Tàu sang dẹp h, thắng đưc Ngô Côn Thất Khê (năm Mậu Thìn

1868) nhưng đến tháng 7 năm ấy các quan tham tán Nguyễn Mại, phó đề đố Nguyễn

Viết Thành tử trận, thống đc Phạm Chi Hương bị bắt.

 

Thay thế cho các bại ớng kể trên, Vũ Trng Bình ra làm Ninh tổng đc hợp sức vi đề đc Quảng Tây Phùng T Tài lấy lại đưc Cao Bằng vào tháng 5 năm Kỹ Tỵ (1869). Ngô Côn chạy xuống Bắc Ninh vào cui năm Canh Ngọ (1870), vây quân triều đình đây ri bị quan tiểu phủ Ông Ích Khiêm bắn chết (theo li dân chúng ở Tuyên Quang thì Ngô Côn b bắt xử chém ở đây).

 

Ch ng Ngô Côn tuy không còn nữa nhưng các b ng Hoàng Sùng Anh (hiệu c vàng), Lưu Vĩnh Phúc (hiệu c đen), Bân Văn Nhị, ơng Văn Li (hiệu cờ trắng) vẫn hoạt động các vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên. Quan tng thống quân vụ Bắc Kỳ Đoàn Thọ lên hành binh Lạng Sơn bị Tứ nửa đêm hãm thành bắt đưc và giết đi, còn Vũ Trng Bình trn thoát. Trưc tình thế nghiêm trng này triều đình vi phái Hoàng Kế Viêm Tôn Thất Thuyết ra cứu viện. Qua tháng Tư năm Tân Mùi (1871) hình b thưng thư Lê Tuấn đưc phái thêm ra Bắc để tiếp ng.

 

Vào tháng 11 năm ấy tại Quảng Yên, giặc Hoàng Tề thông vi Tứ giặc Tàu Ô ở ngoài bể tràn vào. Sau T bị quan quân bắn chết huyện Thanh Lâm, tnh Hải ơng. Riêng quân C ng C Đen khó tr hơn cả. Sau nhờ chỗ chúng đánh phá lẫn nhau, quan ta dụ đưc Lưu Vĩnh Phúc cho giữ việc quản trị tỉnh Lào Kay, đưc thu thuế má để chống giữ vi đảng Cờ Vàng Giang. Tháng 7 năm Nhâm Thân (1872) Nguyễn Tri Phương đưc cử ra Bắc làm tuyên sát đổng sức đại thần để chỉ huy việc đánh dẹp.

 

Đến tháng 8 năm Ất Hi (1875) Hoàng Sùng Anh v đóng ng Châu Thượng, phủ Vĩnh ờng, tỉnh Vĩnh Yên bị quan tán tương quân v bắt đưc, bấy giờ mi hết nạn Cờ Vàng. Nhưng từ năm này đến năm Canh Thìn (1880) còn nhiều đám giặc khác nổi lên nữa (giặc Trận, giặc Dương Tài). Quan Tàu ta lại hiệp nhau đánh dẹp, sau bắt đưc loạn ớng họ Lý giải về Tàu. đất Bắc loạn liên miên, triều đình đặt ra chức Tĩnh Biên S để bảo vệ các tỉnh đường nc. Nguyễn Hữu Độ Trương Quang Đản đưc làm Tĩnh Biên phó s để trông coi hai đạo Lạng Giang Đoan Hùng (thuc Tuyên Quang) dưi quyền Tĩnh Biên sứ Hoàng Kế Viêm.

 

Trong những năm cui cùng này triều đình lo ni trị đã đủ mệt lại gặp nhiều s khó khăn vi Pháp nữa thì rệt là quá bất lực trưc sự tiến triển quá gấp ca tình thế.




Link của trang: Chương 1 Dực Tông (1847 - 1883)

Bài cũ Trang chủ Bài mới