Mậu Thân Hưu Chiến
Vương Mộng Long
Ðứng trên đỉnh Ngô-Sơn, tôi xoay người một vòng ba trăm sáu mươi độ, nhìn bao quát vùng đồi núi dưới chân mình. Dưới kia chỉ là rừng xanh chập chùng.

Ông Lạc, thường vụ đại đội, vừa loay hoay, tay cời bếp lửa, vừa ngoạc miệng, nghêu ngao câu sấm lưu truyền từ đời tám kiếp nào đó: “Thân, Dậu niên lai… kiến thái bình…”

Tôi chợt nhớ ra, chỉ còn hai ngày nữa là bước sang năm Thân, nếu đúng như sấm truyền thì, năm mới Mậu Thân (1968) có lẽ quê hương tôi sẽ thấy thái bình?

Ðêm Hai Mươi Chín tháng Chạp, ngồi buồn, tôi mở cái máy PRC 10 rà những tần số lạ. Tay tôi ngừng xoay cái núm chỉnh tần số, khi nghe trong ống liên hợp có tiếng ai đó đang réo hụt hơi:

“Hồng-Lĩnh có nghe không? Ðây Sa-Thầy gọi!”

“Hồng-Lĩnh có nghe không? Ðây là một đầu năm đuôi!”

“Báo cho Hồng-Lĩnh biết ‘xê’ đi đầu của tôi lạc đường rồi! Tôi không biết nó đang ở đâu! Bây giờ tôi phải làm sao đây!?”

Tôi ngẫm nghĩ, “Một (1) đầu, năm (5) đuôi là 15! Chắc Sa – Thầy là danh hiệu truyền tin của đơn vị mang số 15 nào đó!”

Tôi nghe tiếng Sa-Thầy rất rõ; chắc nó cũng ở gần đâu đây thôi! Còn Hồng-Lĩnh thì không nghe được. Trong máy chỉ có tiếng “xẹc! xẹc!” Hình như cái đài Hồng-Lĩnh này ở xa lắm, nên máy của tôi không bắt được sóng của nó?

Thuở ấy tôi chưa có ý niệm gì về tình báo chiến trường, chẳng biết các đài vô tuyến đang gọi nhau kia là của địch hay của ta.

“Thôi! Thây kệ họ!” Tôi gác máy, không thèm nghe tiếp nữa.

Mai là Ba Mươi Tết rồi! Ăn Tết trong rừng thì buồn, nhưng cũng may là năm nay có ba ngày hưu chiến, cũng đỡ lo! Chúng tôi nhận được lệnh, sẽ không bắn chúng nó! Việt-Cộng cũng thế, họ sẽ không bắn chúng tôi! Tôi chắc mẩm trong lòng, chắc ăn như bắp là, sẽ không có chiến tranh dịp Tết này. Có Ủy Hội Quốc Tế đứng ra bảo đảm mà! Mậu Thân sẽ là Tết hòa bình trên toàn lãnh thổ của đất nước ta!

Hôm qua, trong lúc di chuyển đổi vùng, một con hoẵng (con mễn) đã chạy đâm sầm vào đoàn quân của tôi. Vài anh lính nhào vào ôm con hoẵng tính đè nó xuống, bắt sống nó để làm thịt, nhưng không xong, con hoẵng nhảy tưng tưng rồi luồn lách trốn mất.

Cứ như tin dị đoan thì, đi rừng mà gặp con hoẵng, không bắt được nó, không giết được nó, không ăn thịt được nó, thì sẽ gặp điều không may. Nhưng tôi nghĩ chỉ còn hai ngày nữa là hết năm; năm mới sẽ thái bình; chắc cái vụ bị con hoẵng đâm vào cũng không đến nỗi nào!

Sáng sớm tinh mơ Ba Mươi tháng Chạp ông tiểu đoàn trưởng cho tôi một tin mừng:

“Sẽ có đơn vị khác tới nhận vùng trách nhiệm của cậu. Nhớ bàn giao cẩn thận! Ðại đội của cậu được về giữ hậu cứ ba ngày Tết!”

Tôi thầm nhủ,



– Có gì đó!

– Việt-Cộng! Việt-Cộng nhiều lắm! Chúng nó chiếm nhà em! Nhà em nằm dưới chân dốc!

Theo hướng tay anh thanh niên chỉ, tôi thấy, ngay dưới dốc là một căn nhà tranh, xung quanh có vườn cây um tùm.

– Trong nhà còn ai không?

– Dạ không. Ba má em và mấy đứa em về Quy- Nhơn ăn Tết nên chỉ có mình em giữ nhà thôi. Nửa đêm Hai Mươi Chín Tết mấy ông Giải-Phóng gõ cửa, ào vào, nhốt em trong buồng, cấm ló mặt ra. Sáng nay em nghe các anh lính Cộng-Hòa la hét trên dốc Bưu Ðiện, em bèn rút phên vách ra thành một lỗ hổng to rồi chờ đợi. Ðến khi các anh xuống tới nơi, em vội chạy lên báo cho các anh hay.
– Hai khẩu trung liên BAR của ông Ngọ và ông Khôi bắn xéo cánh sẻ sát hai đầu hồi căn nhà. Khẩu đại liên 30 quét ngay giữa nhà. Nhớ là phải quét sát đất! Tất cả súng tay còn lại đều nhắm vào căn nhà bắn thả giàn!

Chưa tới ba mươi giây sau,

“Ðùng! Ðùng! Ðùng! Cành! Cành! Cành! Ðoàng! Ðoàng! Ðoàng! Ùm! Ùm! Ùm!…” Gần năm mươi khẩu súng đủ loại, đua nhau nhả đạn nhằm vào cái nhà tranh dưới dốc. Vách phên toác ra từng mảnh, bay như bươm bướm. Mái tranh tung ra từng mảng, bay như bươm bướm. Thoáng chốc căn nhà đã tả tơi, biến dạng, có lẽ những cây cột chính đã bị bắn gãy, nên nó ngả nghiêng, chao qua, chao lại, như muốn đổ sụp. Không có ai từ trong nhà chạy ra. Không nghe một tiếng súng đáp trả!

Chờ năm, bảy phút sau, không thấy gì lạ, tôi ra lệnh ngừng bắn, rồi cho Trung Ðội 2 tràn qua mục tiêu, bố trí dọc con suối để giữ an ninh, còn Trung Ðội 1 thì lục soát mục tiêu.

Sau khi chiếm giữ căn nhà tranh và khu vườn dưới dốc, Trung sĩ nhứt Ngọ báo cáo,

– Trong nhà có khoảng hai mươi cán binh Cộng-Sản. Tất cả đã chết hết! Ta tịch thu được 22 khẩu AK47!

Tôi rút quân lên bố trí quanh Cây Ða Xà. Trung Ðội 1 dùng dây dù cột vào chân những tử thi địch, rồi kéo chúng về tập trung trên một bãi đất trống bên cổng chính của Lao Xá Pleiku. Xe của Quân Vận sẽ đem xác chúng đi chôn. Trong khi chuyển tải các tử thi, anh em phát giác ra một cán binh còn sống! Anh ta nằm giả chết! Trên lưng anh ta có khẩu K54! Anh ta là cấp chỉ huy!

Hai Biệt Ðộng Quân áp tải tên Việt-Cộng tới trước mặt tôi. Anh ta là người Miền Bắc, anh ta cũng cỡ tuổi tôi, hăm nhăm, hăm sáu là cùng. Tôi chỉ chỗ cho anh ta ngồi, rồi mồi cho anh ta một điếu thuốc lá Lucky không đầu lọc. Tôi không ra lệnh trói tay, bịt mắt anh ta, vì tôi nghĩ, chút nữa đây, chắc chắn sẽ có những phóng viên ngoại quốc tìm tới lấy tin vùng giao tranh, và họ sẽ chứng kiến cách đối xử với tù binh của Quân Ðội Việt-Nam Cộng-Hòa.

“Anh tên là gì? Quê quán ở đâu? Bao nhiêu tuổi? Cấp bậc gì? Chức vụ gì? Ðơn vị nào?” Tôi từ tốn hỏi.
Tôi vừa dứt lời, anh cán binh Việt-Cộng đã vội vàng nhanh miệng, lễ phép trả lời:

– Thưa thủ trưởng, em là người Hà Nam Ninh, em tên Lê Hữu Phòng, hăm nhăm, hàm thiếu úy, thủ trưởng xê một, hát mười lăm.

Không ngờ anh chàng này lại có vẻ liến thoắng và bạo dạn quá, tôi thắc mắc,

– Vậy chứ “xê” là gì? “Hát” là gì?

– Dạ xê (C) là đại đội, hát (H) là tiểu đoàn đấy ạ!

Chợt nhớ ra mẩu điện đàm nghe được đêm Hai Mươi Chín Tết, tôi vội hỏi,

– Có phải Sa-Thầy là H 15 không? Còn Hồng-Lĩnh là ai vậy?

– Dạ Sa-Thầy là phiên hiệu của Tiểu Ðoàn H 15, còn Hồng Lĩnh là phiên hiệu của Tỉnh Ðội Gia-Lai.

– H 15 có đại đội đi đầu bị lạc. Có phải C 1 bị lạc từ đêm Hai Mươi Chín Tết không?

Tên cán binh trố mắt:

– Thì ra thủ trưởng cũng biết chuyện đơn vị của em bị đi lạc ư?

Tôi gật gù,

– Biết chứ! Bây giờ anh phải khai cho rõ, C1 ở đây từ lúc nào? Thành phần còn lại của H 15 hiện nay ở đâu?

Nghe tôi hỏi, tên Việt-Cộng chợt ngẩn người ra có vẻ suy nghĩ, băn khoăn. Một phút sau, y chậm rãi kể, với bộ điệu rất thành thực,

– Ðêm Hăm Chín tụi em đi đầu theo anh giao liên dẫn đường. Vừa vượt qua xa lộ Vĩnh Lộc thì có một đoàn xe Mỹ chạy tới, đoàn quân bị cắt ngang, đại đội em đã vào tới Chợ Mới, nhưng toàn bộ đại đơn vị còn bị kẹt trong ruộng khoai mì và đồng cỏ tranh. Chúng em bị mất liên lạc với tiểu đoàn từ đó. Anh giao liên dẫn tụi em tới điểm tập kết nơi lòng một con suối, rồi giao tụi em cho một cán bộ nằm vùng. Ông này dẫn tụi em vào căn nhà dưới dốc để ém quân chờ, căn dặn tụi em không được tự ý nổ súng, không được đi đâu, nếu ông ta chưa quay lại đón. Tụi em cứ chờ mãi cho tới sáng nay thì bị tập kích. Quân Cộng-Hòa bắn rát quá, không chừa một tấc đất nào. Tụi em không chống đỡ kịp. Tất cả quân số của C 1 là hai mươi ba người, chết hết, còn lại mình em thôi! Em nhờ có cái cối xay bằng đá che chở mà sống sót. Ðến lúc quân Cộng-Hòa vào lục soát, em chỉ còn cách giả chết để chờ cơ hội thoát thân. Không dè bị buộc chân kéo lê trên gạch đá, đau quá em đành phải ngồi dậy tự thú!

Nghe xong lời khai của tên tù binh, tôi mới thấy mình quả là quá ơ hờ với cái vụ tìm hiểu trận liệt, biên chế của địch. Ðâu ngờ, mẩu điện đàm ngắn ngủi mà tôi tình cờ nghe được lại là cuộc đàm thoại của đơn vị chủ công địch nhắm vào thành phố Pleiku nhân dịp ngưng bắn đầu năm. Chắc không ai biết chuyện chuyển quân này của Việt-Cộng đâu! Mà dù có biết cũng chẳng ai thèm để ý đề phòng! Vì ai cũng tin Tết này sẽ hưu chiến, Tết này sẽ hòa bình. Ta không bắn địch, địch cũng không bắn ta. Có Ủy Hội Quốc Tế đứng ra bảo đảm, khỏi lo lắng gì.

Rồi tôi lại nghĩ, nếu tình báo của ta không quá ơ hờ, thượng cấp không quá ngây thơ tin tưởng vào những lời hứa cuội của kẻ thù, thì tôi đã không nhận được lệnh phải tập trung vũ khí của đại đội, bỏ vào kho, khóa cứng lại!

Khẩu đội cối 60 ly của Trung sĩ Tánh vừa tới, còn đang loay hoay kiếm vị trí đặt súng. Binh nhứt Ngẫu, xạ thủ cối, hai tay ôm cái bàn tiếp hậu trước ngực chờ lệnh. Binh nhì Nguyễn Sang chậm chạp dang hai chân lấy thế, rồi từ từ hạ cái đòn gánh tám quả đạn 60 ly xuống trước mặt tôi.

Ngay lúc ấy tôi chợt thấy ánh mắt người tù binh như rực sáng. Rồi nhanh như cắt, anh ta bật người dậy, chồm lên, lao vào giựt khẩu Garant M1 trên vai Binh nhì Sang!

Tôi sững người, vài giây sau mới kịp rút khẩu Colt ra khỏi vỏ. Thật là khó can thiệp khi hai người này cứ liên tục di động! Tên Việt-Cộng và Binh nhì Sang ra sức giằng co, giành giựt khẩu súng. Giờ này thằng Việt-Cộng đã trở nên vô cùng hung hãn, nó nhe răng cắn lia lịa vào tay Sang, khiến anh này la lên “Oai oái!”


Bất ngờ, một tiếng “Rốp!” vang lên, cuộc vật lộn chấm dứt!

Sẵn trên tay cái bàn tiếp hậu, Binh nhứt Ngẫu, đã nhanh trí, thẳng cánh nện một phát ngay đỉnh đầu tên cán binh, cứu nguy cho Binh nhì Sang! Thuở đó cối 60 chưa có bàn tiếp hậu bằng nhôm. Bàn tiếp hậu cối 60 được đúc bằng sắt ròng nên rất nặng, mặt sau thì lồi lõm. Vì vậy, chỉ với một cú đập, tên Việt-Cộng đã vỡ óc, lìa đời.

Sự việc diễn biến nhanh tới mức không thể tưởng tượng được! Tôi bị bất ngờ đã đành, ông Donald còn sững người hơn tôi. Ông ta cứ đứng ngớ ra như vừa sực tỉnh một cơn mê lạ lùng.

Binh nhứt Trần Ty đưa cái ống liên hợp cho tôi. Có lệnh của ông liên đoàn trưởng:

“Rút quân gấp! Coi chừng bị đánh chặn ở cổng trại Ðịa Phương Quân!”

Tôi lấy làm ngạc nhiên vì, rõ ràng tôi vừa xuất phát từ căn nhà sập, ở ngay trước cổng cái trại Ðịa Phương Quân ấy để tràn xuống dưới này, nay lại nói trong doanh trại đó có địch? Chẳng lẽ cái trại ấy đã bị Việt-Cộng chiếm rồi?

Thế là chúng tôi lại men theo đường cống thoát nước trở lại khu nhà sập trên Ngã Tư Bưu Ðiện.

Ðại úy Dzếnh đang lấp ló sau một gốc cây, thấy tôi ông bèn ra dấu,

– Coi chừng! Trong đồn Bảo An có Việt-Cộng. Chúng nó vừa bắn ra làm hai anh Thiết Giáp bị thương.Trung tá liên đoàn trưởng đang chờ ông bên hàng hiên đàng kia!

Cái đồn Bảo An này từ lâu là nơi đồn trú của Ðại Ðội Yểm Trợ và Công Vụ Tiểu Khu Pleiku, sau này nó mang tên Trung Tâm Yểm Trợ và Tiếp Vận Tiểu-Khu cho tới ngày Pleiku bị di tản, tháng Ba năm 1975.

Trung tá Dõng và nhóm cố vấn Hoa-Kỳ đang đứng lố nhố sau mấy chiếc M113 đậu dọc lề đường Hoàng Diệu, trước rạp hát. Trong lúc tôi nói chuyện với Trung tá Dõng thì Ðại úy Donald cũng trao đổi đôi điều gì đó với nhóm cố vấn Mỹ.

Trung tá Dõng cho tôi biết, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Pleiku vừa xác nhận rằng, doanh trại của Ðại Ðội Yểm Trợ và Công Vụ Tiểu Khu Pleiku đã bị Việt-Cộng chiếm giữ từ Giao Thừa. Từ đây, chúng đã bắn B 40 ra đoạn đường Hoàng Diệu trước mặt Tòa Hòa Giải, làm cháy hai chiếc M 113 của ta. Ông ra lệnh cho tôi phải tái chiếm doanh trại này càng nhanh càng tốt.

Cơ ngơi của trại lính Ðịa Phương Quân này rất rộng, nó được bao quanh bằng hai lớp rào và một hệ thống công sự phòng thủ kiên cố. Phần đối diện với Ty Bưu Ðiện là văn phòng, cơ xưởng, kho tàng. Phần đối diện với Tòa Án Hòa Giải là cư xá sĩ quan và hội quán. Tôi đã có dịp ăn, nghỉ ít lâu ở nhà một người quen trong cư xá này nên rất thông thuộc đường đi nước bước trong khu doanh trại này.

Chỉ có một con đường duy nhất để tiến vào doanh trại là cổng chính. Hai bên cổng chính là hai pháo đài, hiện đang bỏ trống.

Tiểu đội của Trung sĩ Nguyễn Hữu Có vừa ào vào làm chủ cái lô cốt bên phải thì tiểu đội của Trung sĩ Ðoàn Văn Lụa cũng chiếm xong vọng gác bên trái, vọng gác này có một khẩu đại liên 30.

Tôi chỉ nhảy vài bước là đã tới cái ụ súng đại liên.

Thường ngày thì khẩu súng cộng đồng này hướng ra Ngã Tư Bưu Ðiện trên đường Hoàng Diệu. Giờ này tôi cho nòng súng quay ngược vào sân cờ. Ông Ðại úy Donald theo sát bên tôi. Ông đang lên cò khẩu AK 47. Lúc còn ở dưới dốc Lò Heo, tôi và ông Donald lựa cho mình mỗi người một khẩu AK chiến lợi phẩm, vì chúng tôi chỉ có súng ngắn. Tấn công mục tiêu mà có súng liên thanh thì vững tâm hơn nhiều. Lúc này thì sau lưng ông Donald có một hiệu thính viên Mỹ đi theo. Anh lính Mỹ trẻ này được trang bị một máy PRC 25 và một khẩu AR 15. Ði trận mà bộ dạng chàng ta lại rất thong dong, thảnh thơi như đang đi dạo phố.

Hiện thời tôi không biết địch nằm chỗ nào, cứ đi lớ ngớ trong sân, có khi chết oan. Tôi cho trung đội súng nặng và hai chiếc máy truyền tin nằm lại cổng chính vì sợ rằng kéo nhau “bầu đoàn thê tử”, cần câu, ăng ten, dềnh dàng thì chỉ tổ làm mồi cho B40! Vả lại, đánh nhau trong khu nhà cửa, doanh trại, cứ dùng thủ lệnh, khẩu lệnh, vừa nhanh lại vừa tiện. Thấy tôi làm thế, ông Donald cũng ra dấu cho anh hiệu thính viên Mỹ ôm cái máy PRC 25 ngồi lại trong vọng gác bên cổng chính.

Tôi phân nhiệm vụ cho Trung Ðội 3 vừa là thành phần trừ bị, vừa trấn giữ con đường xuống dốc Lao Xá Pleiku. Trung Ðội 1 và 2 sẽ là lực lượng chủ công.
Ðất được chia cho hai cánh quân, theo trục tiến Bắc Nam, lấy trụ cờ làm ranh. Trung úy Rạng đi cùng Trung sĩ nhứt Khôi của Trung Ðội 2, chỉ huy cánh bên phải chiếm các văn phòng, hội trường và những lô cốt sát rào bên Hoàng Diệu. Tôi và ông Donald đi theo cánh bên trái của Trung sĩ nhứt Ngọ tiến chiếm khu kho chứa hàng, và khu cơ xưởng bảo trì quân xa.

Mặt trời đã lên cao, nhưng toàn cảnh của doanh trại như còn chìm trong một giấc ngủ sâu. Im lặng tới lạnh gáy, rợn người.

Sau mỗi ô cửa, sau mỗi lỗ châu mai có thể là một họng RPD hay AK47 sẵn sàng nhả đạn. Chúng tôi nhướng mắt, dỏng tai, thận trọng từng bước, đi tìm Thần Chết.

Bất ngờ, “Oạch!” Binh nhì Ngô Sanh vì cứ phải liên tục ngỏng cổ canh chừng những ô cửa, những lỗ châu mai, đã vô tình đạp nhằm một cục đá nên ngã bổ nhoài về phía trước, chúi đầu vào bức vách tôn gây nên một tiếng “Ầm!”


Sanh không mang nón sắt, mà đội nón đi rừng, nên cú té đập đầu đã làm anh ta đau ngất ngư!

Trung sĩ nhứt Ngọ vừa đưa tay đỡ Ngô Sanh, vừa càm ràm,

“Tổ cha mày! Cái thằng ăn hại!”

Ngô Sanh vừa xuýt xoa “Á! Á! Ðau!” vừa lồm cồm đứng lên, giơ tay phủi bụi dính áo quần. Rồi lớ quớ làm sao, ngón tay của chàng ta lại móc ngay vào cò khẩu Thompson đang đeo trước ngực!

Thế là “Pằng! Pằng! Pằng!…” đạn nổ liên thanh! Thompson là thứ súng nhạy cò nhứt, nhiều khi chỉ cần nện mạnh báng súng trên nền đất là cơ bẩm đã thụt xuống, đạn tuôn ra cả tràng. Cũng may, mười mấy viên Thompson của Ngô Sanh đã bay hết vào tường mà không trúng ai!

Ông Ngọ chưa kịp la hét, đá đít anh lính bất cẩn thì bất thình lình, súng đạn nổ ran tứ phía!

“Bùm! Bùm! Ðùng! Ðùng! Oành! Oành! Chíu! Chíu!…”

Ðủ mọi thứ tiếng nổ! Ðại liên, trung liên, AK, thủ pháo, chớp nhóa, chói lòa, bụi khói khét lẹt, chỗ nào cũng có địch!


Bất ngờ, tôi thấy B 40 phụt lửa chói lòa, cùng tiếng súng liên thanh “Cành! Cành!” phát ra từ nóc một lô cốt lộ thiên nơi đầu nhà chứa vật liệu xây dựng. Ðây là một ổ đại liên 30 và B 40! Tai tôi nghe tiếng đạn B 40 nổ, cùng lúc mắt tôi nhìn thấy Trung úy Rạng và ông Donald loạng choạng, chúi người vào nhau, gục trên nền đất. Phải nhảy hai bước dài, tôi mới tới sát cái bờ tường chất bằng bao cát có họng súng đang nhả đạn liên thanh. Một quả MK3, tiếp theo là một quả M26 được rút chốt.
Không cần kiểm soát lại kết quả của hai trái lựu đạn, tôi phóng tới bên ông Donald và Trung úy Rạng. Ông Donald nằm gục mặt trên sân, cái nón sắt bị bắn toác nửa phần sau gáy, mặt ông đầy máu, ngực ông đầy máu, vai ông đầy máu, người ông chỗ nào cũng có máu!

Tôi lắc lắc vai ông,

“Donald! Donald! Donald!”

Bạn tôi không nghe được tiếng tôi gọi! Bạn tôi nằm bất động! Bạn tôi đã chết rồi!

Tôi cố gắng lật mặt ông, nhìn ông lần cuối. Mắt ông nhắm nghiền, miệng ông mím chặt, chiếc nón sắt nghiêng một bên, máu trong nón sắt trào ra lênh láng.

Bên cạnh Ðại úy Donald Allen Evans, Trung úy Lưu Danh Rạng nằm co quắp như một con tôm. Nửa mặt anh cùng với cái nón đi rừng đã bị bắn bay đi đâu mất, ngực anh máu còn phun phì phì! Anh Rạng và ông Donald, mỗi người ít ra cũng lãnh trên mười vết thương!

Tôi đau buồn từ từ đứng dậy, giơ tay ra dấu gọi Trung sĩ Có, tính chuyện cho người đỡ xác ông Donald và xác anh Rạng ra ngoài. Ðâu ngờ, “Toác! Toác! Toác!…” tai tôi vừa nghe tiếng nổ thì bên sườn phải của tôi đã bị vật gì đó xuyên vào! Viên đạn AK 47 không trúng cái báng súng mà tôi đeo bên hông, viên đạn không chạm chiếc áo giáp mà tôi đang mặc, viên đạn chui vào ngay cái khe nằm giữa hai mảnh giáp hộ thân!

Người tôi bỗng nhẹ tênh! Không thể giữ nổi thăng bằng trên đôi chân, tôi đành gục xuống! Trung sĩ Có nhảy tới đỡ tôi. Rồi Có cũng ôm ngực, gục xuống theo tôi!

Một toán người ào tới. Có tiếng Trung sĩ Nhứt Nguyễn Nhơn, Trung Ðội Phó Trung Ðội 1,

– Trung úy bị thương rồi! Thằng Có cũng bị thương rồi! Tụi bay vác Trung úy và thằng Có ra ngoài đường mau lên! Mau lên!

Súng tiếp tục nổ ran cùng tiếng la “Xung phong! Xung phong! Biệt Ðộng Sát! Biệt Ðộng Sát!…” vang vang, ồn ào, hỗn loạn…

Một người lính vừa dìu tôi vừa chạy, gần tới cổng thì quỵ xuống; anh ta bị trúng đạn vào lưng!

“Long! Long! Don’t worry! Don’t worry! I’ll help you!”

(Long! Long! Ðừng lo lắng! Ðừng lo lắng! Tôi sẽ giúp anh!)

Người mới la lên là Trung úy Bailey, Cố Vấn của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân. (Tôi không nhớ First Name của Trung úy Bailey.)

Bailey đã có mặt kịp thời, anh dang hai tay đỡ tôi dậy, rồi phóng thật nhanh ra đường. Sau lưng anh, đạn đại liên của địch “Chíu! Chíu! Chíu!…” đuổi theo!

Ra tới chỗ an toàn, Bailey đặt tôi xuống vệ đường. Tôi thấy ngực mình nặng vô cùng, không thể thở. Bailey cởi cái áo giáp của tôi ra, vứt bên vệ đường, rồi xé luôn cái áo hoa tôi đang mặc để tìm vị trí viên đạn đã chui vào. Anh quỳ bên tôi, hai bàn tay xòe rộng. Anh để hai tay trên ngực tôi, rồi nhấn xuống, nhả ra, làm hô hấp nhân tạo, giúp tôi thở dễ hơn. Mỗi khi tay Bailey đè xuống, máu tôi lại phun ra, khi Bailey nhả tay ra, máu lại chạy ngược vào lồng ngực!

Lúc sau tôi đã thở dễ dàng trở lại. Bailey trao tôi cho Ban Quân Y của liên đoàn. Y tá không dám bịt miệng vết thương lại, vì sợ máu ứ trong lồng ngực. Tôi nằm nghiêng bên phải, máu tiếp tục tuôn ra, máu tràn xuống mặt đường.

Nghe tin tôi bị thương, Trung tá Dõng vội chạy tới. Ông quỳ xuống bên tôi, cầm tay tôi, ông dịu dàng,

– Long ơi! Long ơi! Em không sao chứ?

Trung tá Hồ Hữu Dõng xưa nay thường nói năng cộc lốc, không văn hoa, không tình cảm. Vậy mà hôm nay, lần đầu thuộc cấp nghe ông gọi một sĩ quan dưới quyền bằng đại danh từ “Em”, thiết tha như thể là ông ta đang gọi đứa em ruột thịt của mình.

Sau khi mồi cho tôi một điếu xì gà, Trung tá Dõng gọi Thiếu tá Thi tới và ra lệnh,

– Thằng Long mà vào không được thì không ai vào nổi đâu! Ông bảo “già” Dzếnh rút toàn bộ Ðại Ðội 1 ra chốt mấy cái pháo đài ngoài cổng, rồi kêu “cha” Tánh đốt cái trại Ðịa Phương Quân này cho tôi.

Lúc Ðại úy Tánh (Thiết Giáp) bắt đầu công tác phun lửa đốt khu doanh trại Ðịa Phương Quân thì tôi được xe cứu thương đưa về Quân Y Viện Pleiku.

Người ta đưa thẳng tôi vào Phòng Chụp X Quang mà chẳng qua thủ tục nhập viện nào cả. Sau đó tôi được chuyển về Ngoại Thương 2.

Người chỉ huy Ngoại Thương 2 là Trung úy Y sĩ Lê Văn Thới. Ông xem xét tấm hình chụp viên đạn rồi gật gù,

– Không mổ được! Viên đạn nằm sát trái tim. Mổ láng quáng chạm phải trái tim thì phiền! Cứ để viên đạn nằm đó, ít lâu sau mỡ sẽ bọc quanh nó như cái kén của con tằm. Thế là yên!
Phòng sĩ quan có bốn cái giường. Tôi nằm ở giường số 3. Giường số 4 còn để trống. Có hai ông Thiết Giáp nằm sẵn trong phòng này trước khi tôi nhập viện, đó là Trung úy Triết Chi Ðoàn Trưởng 1/3 Chiến Xa và Thiếu úy Tài Chi Ðoàn Trưởng 2/3 Thiết Vận Xa. Ðêm qua hai ông Thiết Giáp này đều bị Việt-Cộng bắn cháy xe, một ông gãy tay, một ông phỏng nặng. Ðại đội trưởng Biệt Ðộng Quân và Chi đoàn trưởng Thiết Giáp cùng trực thuộc lực lượng trừ bị của Vùng 2 thì chẳng lạ gì nhau, nên ba chúng tôi gặp nhau mà chẳng cần phải tự giới thiệu dài dòng.

Nằm trong phòng dành cho sĩ quan được một ngày, tôi thấy ngột ngạt khó thở quá, nên xin Bác sĩ Thới cho tôi ra phòng ngoài.

Sáng Mùng Hai tôi nhờ hai y tá chuyển chiếc giường bệnh của tôi qua khu dành cho hạ sĩ quan và binh sĩ. Phòng này tuy ồn ào, lộn xộn, nhưng rộng rãi, thoáng đãng và vui vẻ hơn.

Binh nhứt Phạm Công Cường nằm trong Ngoại Thương 3 đã nghe tin tôi bị thương nên tìm tới thăm. Cường cho tôi hay số người bị thương nhập Quân Y Viện Pleiku đã quá mức chứa, do đó phải chia sẻ bớt cho Quân Y Viện Qui Nhơn, và Chinook Mỹ đã đem ông Chuẩn úy đi từ chiều Mùng Một Tết rồi.

Ngày đó, tôi chỉ tiếp xúc với ông Chuẩn úy Khóa 25 Thủ Ðức này có vài phút, tên tuổi của ông ấy tôi quên mất rồi! Tới nay, tôi chỉ còn nhớ rằng ông ta bị cận thị nặng, cặp kính trắng hơi dầy. Ông ấy có phong thái của một nhà mô phạm hơn là một ông Biệt Ðộng Quân. Tôi hy vọng rằng, bài viết này sẽ tới tay ông; hy vọng hiện nay ông còn sống, và còn nhớ tới cái đơn vị Biệt Ðộng Quân mà ông đã phục vụ trong thời gian vừa đúng một ngày.

Tết Mậu Thân có ba ngày hưu chiến, vậy mà tính từ Giao Thừa cho tới trưa Mùng Một, thời gian chưa qua một ngày, mà đơn vị tôi đã có gần hai chục người vừa chết, vừa bị thương, cả Trung úy Rạng và tôi đều bị loại ra ngoài vòng chiến, chỉ còn ông Thượng sĩ Nguyễn Em là người mang cấp bậc cao nhứt; đại đội tôi thực sự đã thành một đơn vị “mồ côi”.

Tổng Công Kích Tết Mậu-Thân 1968 của Việt-Cộng đã gây nên biết bao cảnh chết chóc, hoang tàn, đổ nát khắp Miền Nam. Dã man nhứt là cuộc thảm sát ở Huế, nơi đây Việt-Cộng đã xử tử hàng ngàn người dân vô tội rồi chôn vùi thân xác họ trong những ngôi mồ tập thể.

Trong cuộc chiến tranh Việt-Nam Thế Kỷ 20 vừa qua, quân dân Miền Nam đã quá nhân từ, cả tin, dễ dãi và ơ hờ, trong khi đó người Cộng-Sản lại vô cùng gian manh, dã man và xảo trá.

Chúng ta đã bị địch lừa gạt, nên cứ tin tưởng vào những viễn ảnh hòa bình của Hiệp Ðịnh Geneve năm 1954, rồi Hiệp Ðịnh Paris năm 1973; kết quả sau cùng, chúng ta phải trả giá là ngày Ba Mươi tháng Tư năm 1975 Miền Nam hoàn toàn sụp đổ.

Thấm thoắt đã nửa thế kỷ trôi qua, trong lồng ngực của tôi, cái đầu đạn AK 47 vẫn nằm yên bên cạnh trái tim, và mỗi khi trở trời, tôi lại cảm thấy râm ran cả một vùng da bụng quanh nơi viên đạn chui vào.

Mộ bia của anh Rạng thì không biết có còn không? Vì sau ngày Ba Mươi tháng Tư năm 1975 nghĩa trang của những người thua trận đã trở thành hoang phế.

Còn ông Donald, sau lần hát “The Star” cho tôi nghe trên đồi Holloway, đã không còn hằng đêm ngóng về một vì sao, nhớ quê. Ông đã yên giấc nghìn thu trên đất nước của ông rồi.

Ðêm đêm, trong khu Vietnam Veterans Memorial ngay giữa lòng thủ đô Washington D.C của Hoa-Kỳ, bức tường đá đen nhìn giống như một khung trời sâu thăm thẳm, trên đó những cái tên sơn màu trắng, cũng lập lòe, lấp lánh như những vì sao trên trời. Tên ông đã được khắc sâu trong lòng đá. Với người dân Hoa-Kỳ thì cái tên Donald Allen Evans đã thành bất tử!

Và riêng tôi, mỗi năm vào dịp Xuân về, tôi đều nhớ tới người bạn vong niên của mình, nhớ câu chúc Tết trọ trẹ, lơ lớ bằng tiếng Việt:

“Chúc mừng năm mới!…”

Tiếp đó là hình ảnh ông nằm sõng soài trên nền đất, máu đỏ đầy mình, lặng thinh không trả lời tôi réo gọi bên tai, “Donald! Donald! Donald!”

Có những chuyện xảy ra trong đời, vì quá bi thương, nên người ta muốn quên đi, nhưng không làm sao quên được! Có những điều, người ta muốn kể lại, nhưng vừa mở miệng, đã nghẹn lời!

Mãi năm mươi năm sau ngày ấy, tôi mới viết lại chuyện này được trọn vẹn, vì trước đây, mỗi lần bắt đầu câu chuyện, tôi lại thấy mắt mình cay cay, không biết làm cách nào để có thể ngăn đôi giòng lệ tuôn rơi, nên đành gác bút.


VML-K20
Seattle một ngày đầu Xuân 2018

Source:http://baotreonline.com/mau-than-huu-chien/

Link của trang: Mậu Thân hưu chiến

Trang chủ