Người Con Gái Suối Dây
Nguyễn Vô Danh

Anh uống thử xem loại cà phê này có ngon không? Chú Sơn mới gởi đó.

-Chú ấy dễ thương quá. Tết nào cũng nhớ mình và gởi tặng cà phê.

Vợ tôi thì lúc nào cũng lo lắng cho tôi từng ly từng tí. Tôi thật là người chồng có phước. Có lẽ kiếp trước tôi ăn hiền ở lành. Biết tôi ghiền cà phê, mỗi dịp Tết đến, chú Sơn luôn gởi cho vợ chồng tôi 1 bịch cà phê loại ngon.

Sáng nay trời lạnh, cuối tuần, nhìn ra sau nhà xa xa toàn rừng là rừng, tôi lại cảm thấy bâng khuâng, thiếu thốn một cái gì đó, và hơi lo lắng. Mấy hớp cà phê nóng làm lòng tôi tạm bình yên trở lại, nhưng không được lâu. Tết nào cũng vậy, tôi thường có cái cảm giác bất an như thế này. Tôi vẫn nhớ mồn một năm 1968 khi người Cộng Sản, dưới dạng Mặt Trận Giải Phóng miền Nam, vi phạm hiệp ước ngưng bắn đầu năm. Họ tấn công và gây rối khắp nơi vào tết Mậu Thân ở Sài Gòn và các vùng phụ cận. Trong thời điểm đó tôi đang học năm đệ Nhất dự bị thi Tú Tài phần 2, và bắt đầu tập uống cà phê để thức khuya học bài.

Tôi là con trai lớn trong một gia đình nghèo và đông con. Bố làm công chức với đồng lương không đủ ăn, và Mẹ buôn bán ít hàng lậu thuế mua trong những buổi tối gần bến Thương Khẩu SG với tiền lời ít ỏi. Gia đình cũng tạm sống qua ngày với ngày 2 bữa cơm. Sau khi thi đậu Tú Tài phần 2, để nhẹ gánh cho gia đình, tôi thi vào các phân khoa có học bổng như ngành Sư Phạm và Quốc Gia Hành Chánh, nhưng kém may mắn, tôi đành chọn ban toán trên đại học Khoa Học SG. Lúc ấy tôi bắt đầu dậy kèm 2 học sinh bậc Trung Học để kiếm thêm tiền cho các em mua sách vở và tiền xăng nhớt đi học mỗi ngày.

Việc học hành trên đại học Khoa Học không được tiến triển khả quan như mong muốn vì các môn học bên nhóm MPC (Math, Physics & Chemistry) tương đối khó và cần rất nhiều thì giờ mà tôi lại dùng quá nhiều thì giờ đi dậy kèm kiếm tiền thay vì chú tâm vào việc học của mình. Viễn ảnh thi rớt kỳ thi cuối năm bắt đầu làm tôi lo lắng. Người anh họ hiểu chuyện khuyên tôi nên chọn đường binh nghiệp, và tôi đồng ý. Sau một thời gian huấn luyện trong Quân trường, tôi được chuyển về làm ở bộ Chiến Tranh Chính Trị ở SG khoảng hơn 1 năm. Hai mươi mấy tháng trước ngày mất nước, tôi được biệt phái về 1 quận lỵ nhỏ gần Suối Dây, Tây Ninh với cấp bậc Thiếu Úy. Tôi sống ở vùng xôi đậu này cho đến ngày SG thất thủ.

Sau cái ngày định mạng cuối tháng Tư đen tối đó, cũng như bao nhiêu sĩ quan VNCH khác, tôi bị gạt vào trại tập trung, nơi được gọi một cách hoa mỹ là trại cải tạo, nhưng thật ra đó là nơi giam cầm đọa đầy người lính VNCH. Cuộc đời lầm than cơ cực bắt đầu từ đây đến với chúng tôi, và cũng đến với tất cả dân tộc chuộng tự do miền Trung và Nam VN. Dưới chính sách khắc nghiệt với dã tâm trả thù của đảng CS, hàng vạn người đã mất trong trại tù, hàng trăm ngàn gia đình tan vỡ, và hàng triệu người phải bỏ xứ ra đi bất chấp mọi hiểm nguy.

Sau lần may mắn trốn khỏi trại cải tạo năm 1979 và nhiều lần vượt biên thất bại, tôi đi thoát và định cư ở tiểu bang Virginia bên miền đông nước Mỹ năm 1984. Vô tình tôi gặp lại được vài người bạn học cũ khi ghé thăm khu phố chợ Eden Center ở thành phố Falls Church, Virginia. Các bạn đều khuyên tôi nên đi học lại vì ngày xưa họ thấy tôi khá toán lý hóa. Sau nhiều đêm suy nghĩ, tôi quyết định đi học lại và đã hoàn tất ngành Kỹ Sư cơ khí 5 năm sau. Việc làm đầu tiên là với hãng máy bay Boeing ở Witchita, tiểu bang Kansas. Trong thời điểm này tôi bắt đầu liên lạc được với gia đình bên VN, và tôi sửa xoạn thi vào quốc tịch Mỹ để lo bảo trợ gia đình. Bố Mẹ tôi cũng đã yếu, và các em đã lớn nhưng ai cũng thật nghèo, và bữa đói bữa no.

Tôi gặp Jim Moyer, một kỹ sư điện người địa phương, làm cùng sở nhưng khác ngành. Jim trẻ hơn tôi vài tuổi, hiền lành và chịu khó. Jim và tôi thường đi ăn trưa vì Jim thích thử món ăn VN. Hôm đó vào chiều thứ sáu, sắp ra về thì chuông điện thoại reo:

 -“Doug, cuối tuần này bạn làm gì?”. Jim hỏi.

 -Tính đi chụp hinh mấy dòng suối bên thành phố Andover, rồi sau đó đi hiking luôn. Có gì không, Jim ?

-Ba Má tôi muốn mời bạn về nông trại chơi cuối tuần này. Em gái tôi cũng thỉnh thoảng nhắc về anh. À, mà kỳ này có gia đình cô em gái nuôi cũng về chơi. Đi nhé ?

-Ừ, thế cũng tốt. Tôi cũng muốn gặp lại mọi người. Nghe nói ở nông trại có nhiều cảnh đẹp, tôi sẽ chụp 1 mớ hình luôn thể.

Hôm sau Jim lái xe đưa tôi về nông trại cách đó khoảng 1 tiếng rưỡi đồng hồ ở thành phố Augusta, KS. Cách đây 2 tháng, lần đầu tiên tôi gặp gia đình Jim khi họ qua Witchita thăm Jim. Hôm đó Jim sửa soạn cái lò barbeque để nướng ít thịt bò, khoai tây và bắp. Các thứ này là sản phẩm từ nông trại của gia đình. Ông bà Moyer thì lúc nào cũng nhiệt tình và hiếu khách.

- Chúng tôi rất vui khi nghe Jim nói là Doug nhận lời về chơi với gia đình tôi cuối tuần này.

-Cám ơn ông bà đã mời. Thật là đúng lúc. Tôi cũng đang muốn lên đây thăm ông bà, và xem cái nông trại của ông bà. Nghe Jim nói về mấy luống dưa hấu mà Jim đã trồng.

-Nghe Jim nói là có gia đình con gái nuôi của ông bà ghé về thăm.

-À, Hannah mới chạy ra phố mua ít rau Arugula để trộn thêm vào xà lách ăn tối nay. Danny thì mai mới tới vì có họp ở trường vào giờ cuối ngoài dự định. Hai mẹ con nó dễ thương lắm. Gặp tụi nó ở nhà thờ dưới Andover cách đây 2 năm.

-Chúng tôi xem Hannah như con gái trong nhà. Thằng Danny thì gọi chúng tôi là grand Ma and grand Pa. Hannah nấu ăn ngon lắm.

-Vợ chồng tôi nhắn tụi nó lên tuần này. Chúng tôi cũng muốn Doug gặp họ vì họ cũng ở gần Witchita, và cũng là người VN.

-Mà, Hannah rời VN qua đây năm nào?

-Tí nữa sẽ nghe nó nói. Tôi không nhớ rõ lắm. Trong lúc Jim và Kathy (em gái) vào nhà phụ Mẹ sửa soạn bữa ăn tối, ông Moyer lái xe cho tôi xem cái nông trại 30 mẫu rất rộng và gọn ghẽ. Họ trồng bao nhiêu bắp, khoai tây và đậu nành. Phần còn lại của nông trại dùng để trồng cỏ Alfalfa để bán (thực phẩm cho bò, ngựa và dê ăn mùa đông). Mấy cây táo và lê thì trồng gần vựa chứa nông phẩm. Gần đó tôi thấy vài chuồng ngựa, vài chuồng bò, và 1 kho chứa nông cơ. Gần nhà thì có 1 vườn rau với những cây đậu cua ve, dưa leo, củ cải đỏ, hành tây, dưa hấu ... Khoảng cuối nông trại có 1 lạch nước rộng (meander) chảy ngang và cuốn vòng theo ranh giới của nông trại bên phía nam, và dưới lạch có khá nhiều cá. Thấy cảnh này tôi chợt nhớ đến các lạch nước lớn ở quận lỵ nơi tôi làm việc ngày xưa ở gần Suối Dây, và nhất là con sông nhỏ ở cuối quận giáp ranh với khu rừng Tràm.

Khi chúng tôi về đến nhà thì bàn ăn đã sẵn sàng. Bà Moyer đã nướng xong 1 con gà tây lớn. Kathy làm bánh nhân bí rợ. Jim thì đang xếp đĩa, giấy và ly lên bàn. Ở trong bếp thì một cô gái Á Đông đang trộn xà lách.

-“ Đây là con gái nuôi của tôi là Hannah. Còn đây là Doug”. Bà Moyer giới thiệu.

-Chào anh. Ôi, trời ơi, có phải ... phải ... phải là anh Đức, Thiếu Úy Nguyễn Thành Đức ... ở Suối Dây !!!

-“Hannah ... Hân hả ? Sao em lại ở đây?”; Khi tôi nhìn kỹ Hannah.

Trong một thoáng, chúng tôi trố mắt nhìn nhau, không tin vào nhãn quang của chính mình. -“Tôi không hiểu 2 người đang nói gì bằng tiếng Việt, nhưng tôi đoán là Doug và Hannah đã quen biết nhau trước rồi; phải không ?” Bà Moyer hỏi.

-Quen nhau lúc nào vậy? Không nghe Hannah nói gì hết ! -“Dạ, chuyện dài lắm. Tôi không dè. Tôi không tin vào mắt mình. ... nhưng rất vui mừng khi gặp cô ấy ở đây. Tôi chờ đợi ngày này lâu lắm rồi. Con cám ơn Chúa. Con cám ơn Chúa”. Tôi nói một loạt dài như chưa bao giờ được nói.

-“Thôi, đúng là Ngài đã sắp đặt cho cuộc trùng phùng ngày hôm nay”; ông Moyer xen vào, và ông nhìn bà và tiếp tục:

-Cám ơn Bà đã làm con gà Tây như là 1 buổi tiệc Tạ Ơn, và hôm nay, đúng là 1 bữa cơm tạ ơn cho việc sum họp của Doug và Hannah. Thôi chúng ta hãy ngồi vào bàn và thưởng thức giây phút thần tiên này. Gia đình tôi muốn nghe câu chuyện của Doug và Hannah. Chắc là 1 câu chuyện kỳ thú lắm.

Câu chuyện của Đức. ... Khi được biệt phái về cái quận lỵ nhỏ xíu này, tôi lo lắm, vì đây là vùng xôi đậu (ban ngày thuộc Quốc Gia, và ban đêm thuộc bọn Cộng Sản). Người dân khổ lắm vì phải sống trong sợ hãi và phải đóng thuế cho 2 bên. Muốn giúp đỡ phe Quốc Gia nhưng lại sợ bị trả thù vào ban đêm. Vùng này là 1 quận nhỏ có khoảng trên 300 nóc gia đình sống rải rác. Đường vào làng có vài cầu gỗ vì các lạch nước chảy ngang bên dưới. Ở cuối quận, có 1 con lạch lớn hơn, như là 1 con sông nhỏ thì đúng hơn, nhưng nước chảy chậm chạp. Qua bên kia sông là rừng Tràm mọc lẫn với cao su – rất âm u. Đại Úy Long quận trưởng đi hành quân liên miên. Còn tôi chỉ là phó, lo việc giấy tờ hành chánh. Tôi đi đâu cũng có người phụ tá là Hạ Sĩ Sơn đi theo. Nghe nói HS Sơn là tay thiện xạ bắn súng giỏi lắm. Sơn luôn nhắc tôi phải cẫn thận vì mình không biết ai là địch, ai là thù. Sơn cho tôi biết là có nhiều gia đình ở đây không có đàn ông. Chỉ có đàn bà và con nít. Khi hỏi đến họ nói là bị chồng bỏ hay chồng mất tích hay chồng chết. Có thể chồng và con trai họ đi theo bên kia, và chính họ có thể là các tay giao liên tiếp tế nằm vùng bên này tạm thời. Càng đi sâu vào quận càng có vẻ nguy hiểm nếu bị tấn công hay bắn lén vì đây là ngõ cụt.

Với ý niệm về Chiến Tranh Chính Trị mới học trong trường Sĩ Quan, khi mới về, để lấy lòng, tôi cho bán rẻ gạo cũ (đã tồn kho quá lâu) cho dân. Dân chúng thấy giá rẻ mừng lắm mua gần hết rồi đem về Sài Gòn bán lại kiếm lời. Khi được mùa, tôi mua gạo mới để tồn kho. Trong 8 tháng đầu, tôi cho lính sửa lại mấy cây cầu ọp ẹp trong quận, và vào xóm sửa chữa hàng rào, chuồng gà và nhà cửa cho dân chúng. Do vậy vài người dân thương tình bí mật báo chúng tôi biết khi nào tụi Việt Cộng di chuyển đến khu rừng Tràm.

Ở cuối quận, gần khu rừng Tràm và con sông nhỏ, có 2 căn nhà cũ nát và tồi tàn. Căn thứ nhất nằm bên trái con đường đất đỏ có 2 mẹ con sống ở đó. Căn thứ nhì nằm bên phải con đường và nằm gần bờ nước hơn. Người đàn ông khoảng 36 tuổi ở đó. Không ai biết tông tích rõ ràng của hắn. Vì chân phải đi khập khiễng, mọi người gọi hắn là Ba Thọt. BT xấu trai, nhưng khỏe lắm. Hắn đi làm mướn, làm công trong quận kiếm tiền độ nhật. Nhiều người nghi ngờ là BT là người phe bên kia, nhưng chưa ai thấy hành động gì của hắn ngoài việc đi làm công, đi cày mướn, ... Thỉnh thoảng BT biến mất vài ngày, không biết đi đâu. Khi rảnh hắn thường ghé qua nhà 2 mẹ con ở bên kia con đường đất đỏ. Có thể 2 mẹ con ở nhà bên kia cũng cùng phe với BT ?

Lính của tôi có đến giúp BT sửa cái vách xiêu vẹo, nhưng BT nhất định không cho làm. Có lẽ tên này có gì dấu giếm trong nhà hoặc là không muốn chúng tôi đến gần. Họ cũng có tới sửa mái nhà cho 2 mẹ con. Khi sửa xong tôi đến coi, nhưng trong lòng rất dè dặt. Bà mẹ với giọng khàn khàn vừa ho vừa nói:

-Hân à, con ra cám ơn Thiếu Úy Đức, à quên, gọi là ông Phó mới đúng, đã giúp sửa cái mái dột đi con.

-Dạ, chào ông Phó. Mẹ con em cám ơn ông Thiếu Úy cho các anh lính đến sửa mái nhà.

-Không có chi, cô Hân ...

Tôi muốn nói nhiều hơn như là bổn phận của lính là phải giúp đở người dân ... , nhưng nói tới đây, mặt tôi đỏ lên, và không biết phải nói gì nữa sau khi chạm vào ánh mắt cô ta.

-“Dạ, lúc này mưa nhiều lắm... Sửa thật đúng lúc ...”. Hân nói đứt quãng.

Hân có khuôn mặt dễ thương và cân đối. Sóng mũi cao và thanh. Đặc biệt là đôi mắt rất đẹp như đang cười với tôi. Lúc đầu ánh mắt đó làm tôi giựt mình, và rồi tôi như bị thôi miên bởi con mắt ấy. Cả Hân lẫn tôi đều ngập ngừng như là đã quên bẵng những gì sắp nói hay muốn nói. Thấy tôi nhìn chằm chằm, mặt Hân cũng đỏ lên, và vội quay bước lui vào trong.

HS Sơn thấy vậy, ra hiệu, -“Thôi mình đi dzề, Thiếu Úy. Trời sắp tối rồi".

Tôi về lại văn phòng mà lòng cứ để đâu đâu. Gặp Hân có đúng 10 giây, mà tim tôi hồi hộp đến độ tôi quên cả các câu nói xã giao học thuộc lòng trong trường Chiến Tranh Chính Trị. Lúc đó chân tôi như bị đóng đinh tại chỗ. Thời gian như dừng lại. Bấy giờ tôi mới bắt đầu hiểu tiếng sét ái tình là như thế nào.

Tối hôm đó thay vì về nhà, tôi ở lại quận xem xét hồ sơ của mẹ con Hân. Không có gì khác lạ, ngoại trừ tôi biết được là Hân mồ côi cha và làm thợ may dưới chợ.

Từ hôm đó, tôi đi làm sớm hơn, và ngồi trong văn phòng nhìn Hân đi ngang quận trên đường ra chợ đi làm. Chiều về tôi cũng muốn nhìn thấy Hân đi làm về ngang văn phòng quận. Có lần, không thấy Hân đi làm cả tuần lễ, lòng tôi như lửa đốt. Tôi đứng ngồi không yên, nhưng tôi không dám đến nhà. Rồi tuần sau, Hân đi làm lại. Tôi thấy Hân, và con tim đã vui trở lại.

Tôi đang bị lôi kéo giửa tình cảm cá nhân và trách nhiệm tổ quốc vì Hân có thể là người giao liên của phe bên kia. Sau vài tuần suy nghĩ, tôi quyết định gặp Hân thêm 1 lần để xem trái tim mình có còn thổn thức như lần đầu tiên gặp nàng. Tôi ghé ngang chợ nơi Hân làm. Hôm đó tôi không mặc quân phục, nhưng bằng áo chemise và quần Tây. Tôi đem cái áo bị bung chỉ vai cho nàng sửa. Hân ngạc nhiên khi thấy tôi.

-Dạ, chào Thiếu Úy. Má em vẫn nhắc đến cái mái nhà. Thiếu Úy hôm nay nhìn trẻ và lạ quá.

-Chào cô Hân. Tôi có cái áo phải sửa ...

Cũng như lần trước, tôi quên bẵng những gì tôi cần phải nói như là tôi có nửa lọ thuốc ho cho mẹ Hân ... Thấy đứng như trời trồng kỳ quá, tôi nói vội "–Chào cô" , rồi đi thật mau. Hành vi của tôi không qua mắt được đàn em của Đại Úy Long quận trưởng. Long gọi tôi vào và cảnh cáo là tôi phải cảnh tỉnh vì đây có thể là Mỹ Nhân Kế và có thể ảnh hưởng đến sinh mạng của binh sĩ, của người địa phương, và ngay cả sinh mạng của tôi. Đại Úy Long nghi ngờ có sự liên kết giữa Ba Thọt và gia đình Hân. Đại Úy Long kể cách đây hơn 2 năm có một người Địa Phương Quân hay lảng vảng ở khu cuối quận vì cậu ta có cảm tình với Hân. Sau đó cậu ta bị mất tích. Long và các binh sĩ lùng kiếm khắp vùng chung quanh nhưng không tìm ra một dấu tích nào, ngoại trừ một chiếc giầy của anh ta tìm thấy bên kia khu rừng Tràm. Nghe xong, tôi choáng váng, vì những gì Đại Úy Long nói là chuyện rất có thể xảy ra cho tôi.

Từ đó tôi cố tránh gặp Hân, mặc dầu trong lòng khá buồn. Tôi cũng hơi sợ vì những chuyện Đại Úy Long đề cập. Tôi biết nhiều lần Hân đi ngang quận cố tình đi thật chậm để gặp tôi.

Vài tháng trôi qua thật não nề khi tôi không dám gặp Hân nhưng nhớ khuôn mặt và giọng nói của nàng vô cùng. Đây đúng là trường hợp vừa sợ vừa thương.

Rồi không lâu sau đó, Kontum-Ban Mê Thuột mất; rồi Madagui -Bảo Lộc mất, ... Công voa của địch tiến đến gần quận lỵ nơi tôi trú đóng, và sửa soạn tấn công. Đại Úy Long bỗng dưng mất tích. Tôi, HS Sơn và các anh em binh lính cố hết lòng đánh chận quân địch, nhưng chúng tôi không đủ đạn dược và nhân sự. Trước hỏa lực tấn công quá mạnh, tiểu đoàn chúng tôi tan rã. Các anh em binh lính tan hàng chạy tứ phía. HS Sơn và tôi đều bị thương.

Không còn đường thoát thân, cả 2 cố chạy về cuối quận mặc dầu biết đó là ngõ cụt. Tôi nghĩ là Hân hoặc Ba Thọt đang chờ và sẽ ra tay. Tôi tự quyết với lòng là nếu không giết được họ, tôi thà tự bắn mình hơn là để bị bắt. Trời đã xâm xẩm tối. Tôi tiếp tục chạy và ngã quỵ xuống cách nhà Hân khoảng 15 thước vì kiệt sức nhưng tay vẫn ôm chặt khẩu súng sẵn sàng đổi mạng. Bỗng Hân chạy ra, mở cửa rào và ra dấu cho HS Sơn kéo tôi vào trong nhà. Hân đưa cho chúng tôi 2 vắt cơm và 1 ít nước. Trong lúc chúng tôi nuốt vội vắt cơm, Hân tháo 2 ruột xe đạp ra để chúng tôi làm phao, và nói chúng tôi thả nổi theo cái sông nhỏ sau nhà. Nước sẽ đưa chúng tôi tới nhà thờ Suối Dây cách đó gần chục cây số để liên lạc với người Linh Mục. Nên tìm đường thoát thân qua Campuchia nếu thấy không yên. Hân vừa khóc vừa hối chúng tôi đi ngay. Đến khi đó tôi mới thấu hiểu lòng Hân. Cô gái đó thật sự là ân nhân chứ không phải kẻ thù. Cái ơn này không biết khi nào tôi mới trả được. Đó là lần cuối cùng tôi thấy Hân. Nàng ra dấu cho chúng tôi đi cho mau.

Theo dòng nước, tôi và HS Sơn trôi tới nhà thờ Suối Dây trong bóng đêm, gặp vị linh mục người Nam Định, và ở đó hơn nửa tháng dưỡng thương. Nghe radio thì biết nước nhà đã mất. Tổng Thống Dương Văn Minh đã đầu hàng. Tôi khuyên Sơn nên về quê với gia đình bên vợ làm rẫy qua ngày. Còn tôi thì về Sài Gòn tìm gia đình. Lúc chia tay, tôi và Sơn cùng khóc.

Trốn về đến SG gặp lại Bố Mẹ và các em lúc gần nửa đêm. Ai cũng nghĩ là tôi đã chết. Cũng như mọi gia đình lúc bấy giờ, chúng tôi bán dần quạt máy, TV, bàn ghế, xe Honda, ... để có tiền mua đồ ăn. Rồi một ngày nọ, tôi bị gạt đưa vào 1 nhà tù lớn có tên gọi là trại cải tạo. Trong 4 năm kế tiếp, chúng tôi bị chuyển qua nhiều trại giam như Suối Máu, Bù Gia Mập, ... Đến giữa năm 1979 một hôm đi lên rừng đốn gỗ thì hôm ấy mưa to lắm và mưa luôn mấy ngày. Đường về trại sình lầy trơn trượt. Chúng tôi đưa gỗ xuống suối và nhờ dòng nước đưa về một nơi gần trại rồi vớt lên. Tôi và 2 bạn tù khác lợi dụng trời mưa to và bầu trời tối quá sớm để lẩn trốn mỗi đứa mỗi hướng. Khoảng 1 giờ sau, vài tiếng súng nổ, tôi không biết mấy người bạn trốn trại có thoát không. Tôi thì lợi dụng dòng nước chảy xiết để được đưa về hạ nguồn. Cách này hơi nguy hiểm nhưng may mắn thay, tôi thoát chết ngày đó.

Về đến nhà thì mới hay gia đình bị đi vùng kinh tế mới, và không biết ở đâu. Không có nơi nương tựa, tôi làm bất cứ việc gì để đổi lấy chén cơm qua ngày. Tối ngủ ở vỉa hè, bụi cây hay ngoài chợ chung với những người từ bỏ vùng kinh tế mới về lại thành phố. Một hôm trời xui đất khiến tôi vô tình gặp lại Hải, người bạn cũ học chung với nhau từ lớp 3 bậc tiểu học. Hải lúc đó có vài chiếc xe Be đi lên rừng cao nguyên đốn gỗ quý bán. Hải có tiền và biết cách lo lót Công An nên mọi việc trót lọt. Tôi làm việc cho Hải một thời gian. Nhờ Hải giúp đỡ, tôi có ít tiền và dự định vượt biên. Cũng năm chìm bẩy nổi, và sau cùng tôi đến trại tị nạn Thái Lan. Được chọn đi Mỹ năm 1984.

Bao nhiêu đêm tôi nghĩ đến Hân. Không biết người ân nhân đó giờ ra sao. Chỉ biết cầu nguyện cho Mẹ con Hân được khỏe mạnh và bình an. Tôi mong một ngày nào đó khi vấn đề VN tươi sáng hơn, tôi sẽ về Suối Dây tìm Hân. Tôi có 1 món nợ lớn với người con gái này. Tôi không thể quên được cặp mắt của nàng nhìn tôi ngày đó khi tôi vội vã bước xuống con sông nhỏ sau nhà đi trốn.

Câu chuyện của Hân. Bố Hân mất sớm khi Hân lên 3. Hai mẹ con dọn từ chợ Long Hoa (Tây Ninh)về 1 quận lỵ nhỏ gần Suối Dây khi Hân lên 7 vì đất đai nơi đây rẻ, màu mỡ và thuận tiện cho việc trồng rau nuôi gà. Đây là vùng xôi đậu, người dân như mang mặt nạ, cố gắng không theo bên nào để tránh việc bị trả thù. Cũng nhiều lần phe bên kia muốn Hân thành cán bộ giao liên của chúng, nhưng Mẹ Hân không đồng ý với lý do là bà không muốn con bà bị trả thù từ phía Quốc Gia hay con bà phải đi sống xa bà vì sức khỏe bà không tốt. Bà còn nói dối là theo như bà nghĩ thì chồng bà đang tập kết ở miền Bắc. Còn đám tang của ông chỉ là đám tang giả để che mắt Chính Quyền địa phương. Nghe vậy, phe bên kia để mẹ con bà yên, nhưng thỉnh thoảng vẫn đến dụ dỗ.

Hân lớn dần lên trở thành 1 cô gái duyên dáng và thông minh. Khi sức khỏe mẹ kém dần, việc làm rẫy trở nên khó khăn, cô xuống phố chợ học may vá để mưu sinh. Vì ngoại hình xinh sắn lại khéo ăn nói, vài người theo đuổi như không ai lọt vào đôi mắt xanh của nàng. Ba Thọt ở gần nhà rất thích Hân, cứ ghé qua trò chuyện, nhưng Hân viện cớ bận rộn với mẹ già để đuổi khéo hắn.

Cho đến 1 ngày kia khi Thiếu Úy Nguyễn Thành Đức ghé qua nhà xem kết quả của việc sửa mái nhà, Hân gặp Đức. Cô thấy Đức là 1 sĩ quan đẹp trai, đàng hoàng, tử tế, có phong độ, và lòng nàng bỗng rung động. Khi Hân nhìn Đức, bốn mắt chạm nhau, nàng thấy mình lao đao hồi hộp. Hân thấy lòng mình ấm lại khi thấy Đức mỉm cười. Hôm đó Hân vui suốt một buổi chiều, và đêm đó cô ngủ ngon đầy mộng mị.

Mãi không thấy Đức ghé qua, Hân cũng bắt đầu cảm thấy 1 sự nhớ nhung. Mỗi lần Hân đi ngang văn phòng quận, cô đi chậm lại với hy vọng gặp Đức dù chỉ 1 thoáng giây. Hơi thất vọng vì không gặp Đức, nhưng Hân vẫn chưa nản lòng. Hân đâu biết là Đức ngồi bên trong nhìn nàng mỗi ngày. Cả tháng trôi qua, và thế rồi 1 hôm, Đức đến tiệm may nơi Hân làm để sửa áo. Hôm đó Đức trông như 1 thư sinh nhưng không kém phần phong độ của 1 chỉ huy. Đức không nói nhiều nhưng Hân vui vì gặp lại Đức. Sau khi Đức về, Hân thấy trong cái áo mang sửa có lọ thuốc ho trong 1 bao ny lông có chữ viết nguệch ngoạc “thuốc ho cho mẹ cô Hân, ngày uống 2 lần, mỗi lần nửa viên”. Hân cảm động thật sự. Nhờ lọ thuốc mà mẹ Hân bớt ho ban đêm. Bà ngủ yên giấc và từ từ khỏe ra.

Mấy tháng không gặp Đức, Hân buồn và nhớ Đức lắm. Rồi chiến tranh khắp nơi bùng nổ. Một buổi chiều nọ, tiếng súng đạn nghe như gần lắm. Hân bước ra trước nhà lấy củi thì thấy Đức chạy về phía nàng rồi ngã quỵ. Hân mở cửa rào cho HS Sơn khiêng Đức vào nhà. Thấy 2 người bị thương và kiệt sức, Hân đưa vội ít cơm và nước để cầm hơi, và chỉ 2 người cách trốn đi, vì thế nào phe bên kia cũng lùng tới. Trong nhà có cái xe đạp, Hân lấy 2 ruột xe ra, bơm hơi và đưa cho 2 người làm phao tạm thời để trốn đi về Suối Dây. Nhờ đó Sơn và Đức thoát hiểm trong bóng đêm.

Trong tuần lễ kế tiếp, phe bên kia làm chủ tình hình. Ba Thọt hiện nguyên hình là 1 thượng tá Việt Cộng. Vào một đêm mưa gió, BT qua nhà mẹ con Hân, và trói bà lại, rồi hãm hiếp Hân. Vài ngày sau, BT lại tái diễn việc làm cũ, và sau đó hắn loan báo cho mọi người trong quận biết là Hân là vợ hắn. Sau cùng hắn dọn qua ở ngay bên nhà Hân.

Vài tháng sau mẹ Hân lâm bệnh nặng và biết mình không sống được lâu nữa. Hân định tự tử và chết theo mẹ. Bà khuyên Hân phải sống vì cái bào thai trong bụng. Bà khuyên nàng trốn đi. Bà phụ Hân làm 1 bửa cơm ngon cho Ba Thọt lấy cớ là ngày giỗ Bố Hân, và mua chút rượu đế. Khi BT say bí tỉ, bà dùng dao nhọn đâm ngay vào tim. BT say nhưng còn khỏe lắm. Hắn bật dậy và rút được con dao ra. Máu từ ngực phun ra có vòi. BT tay cầm dao, lảo đảo, ngã sóng soài về phía trước và đè lên Mẹ Hân. Con dao trong tay hắn vô tình đâm vào bà. Bà và BT chết tại chỗ. Xác của hắn bị vứt xuống cái suối sau nhà. Xác cũa bà được chôn bên cạnh nhà trong miếng đất trồng rau thuở nào. Sau biến cố này, Hân trốn về Suối Dây ở tạm tại nhà Thờ Suối Dây với vị linh mục người Nam Định.

Rồi Hân về Rạch Giá thăm người dì, và ờ đó cho tới ngày sinh nở. Thằng bé ra đời. Nàng ghi trong khai sanh tên cha là Nguyễn Thành Đức, đặt tên con là Nguyễn Thành Đăng (cùng chử Đ như tên của Đức). Khi Đăng được 1 tuổi, Hân tìm đường vượt biên.

Sau nhiều lần vượt biên thất bại, Hân và con đến đảo Bidong năm 1979, và được vào Mỹ năm 1981. Sau dọn về Andover, Kansas. Hân mở 1 tiệm sửa chữa quần áo nhỏ. Và tại đây, Hân gặp ông bà Moyer ở nhà thờ Tin Lành.

Cũng vì đứa bé trong bụng, Hân nghe lời mẹ phải sống cho đứa bé vì nó vô tội. Đăng là niềm vui của nàng trong những cơn sóng gió. Đăng kháu khỉnh, ít bệnh tật, mau lớn, ngoan, nghe lời mẹ, và học giỏi. Hai mẹ con thương nhau lắm. Đi học về là ra tiệm phụ với mẹ sửa quần áo cho khách cho đến tối. Khi Đăng hỏi về người bố, thì Hân nói là bố Đức bị mất tích trong chiến tranh VN vào những ngày cuối cùng của chế độ tự do VNCH.

Trong bữa ăn tối Đức và Hân kể lại cho gia đình Jim về chuyện họ gặp nhau, về những sóng gió họ đã đi qua. Hannah nói rất ít về Danny (Đăng). Sau bửa ăn, mọi người cùng cầu nguyện trước khi đi nghỉ sớm. Đức và Hân ra sân sau nói chuyện riêng với nhau. Khi đó nàng mới cho Đức biết thêm về Đăng, về tấm giấy khai sinh, và tại sao nàng đặt tên con như vậy.

-Anh không bao giờ ngờ được là anh sẽ gặp lại Hân trong khung cảnh này. Bất ngờ quá, nhưng anh mừng lắm là em còn sống, khỏe mạnh và bình yên. Anh vẫn còn nhớ đôi mắt em nhìn anh khi anh ra đi.

-Em vẫn nhớ hôm anh đem cái áo đến tiệm để sửa. Lọ thuốc ho anh cho giúp mẹ ngủ yên cả tháng. Sau đó mẹ khỏe ra. Mẹ cứ nhắc mãi phải cám ơn anh. Vài tháng trời không thấy anh, em lo lắm không biết chuyện gì đã xẩy ra.

-Anh tính cuối năm nay anh vào quốc tịch, rồi anh sẽ về VN thăm bố mẹ và các em. Sau đó về Suối Dây tìm em, và Cần Thơ tìm Hạ Sĩ Sơn. Anh mường tượng là em vẫn còn ở đó, nhưng nghèo lắm với đàn con nheo nhóc. Đâu dè em đang ở đây.

-Em mừng lắm khi gặp lại anh. Còn anh, bây giờ vợ con ra sao? Mấy cháu rồi?

-Anh chưa lập gia đình. Đi tù cải tạo 4 năm, trốn trại tù năm 1979, và sau đó chỉ đi làm kiếm tiền vượt biên. Qua đây đi học lại bù đầu. Ra trường năm 1989 rồi nhận việc ở đây, thành ra mới gặp lại em.

-Còn em? Sau cháu Đăng còn cháu nào nữa không? Chồng em giờ làm gì ?

-Em chỉ có Đăng. Em không lập gia đình, vì em chưa quên được Thiếu Úy Đức. Em không có dịp nói chuyện nhiều, nhưng qua ánh mắt của anh ấy, em thấy có sự ấm cúng, bao dung, cảm thông và hiền hòa. Em mến anh ấy với cả tâm hồn của em.

- "Bao nhiêu đêm, em cầu nguyện Bề Trên xin cho em gặp lại anh một lần, dù là phải gặp anh trong tình cảnh éo le nhất". Hân tiếp tục.

 -Ngày mai, Đăng sẽ đến đây thăm grandpa and grandma Moyer. Hôm nay nó không đi được với em vì ông hiệu trưởng bất chợt mời nó tham dự 1 party ở trường. Em cũng tính không đi hôm nay, và ngày mai sẽ đi cùng với nó lên đây, nhưng ông bà Moyer nói bằng giá nào cũng phải lên. Em nể họ, thành ra lên. May quá gặp anh hôm nay. Như vậy em có thêm thì giờ để suy nghĩ.

-Vấn đề gì mà em phải suy nghĩ? Anh có thể giúp gì cho em không?

- “... anh nghĩ xem em phải nói sao với Đăng ngày mai khi nó biết tên anh trùng tên với bố nó, ... và anh là Thiếu Úy Đức và bố nó cũng là Thiếu Úy Đức ở Suối Dây ?” Hân ngập ngừng nói.

Sau một thoáng suy nghĩ, tôi nhìn Hân:

-À, ... vấn đề cũng không khó giải quyết ... nếu em vẫn còn thương anh và muốn đi chung với anh trong đoạn đường kế tiếp. Em nghĩ sao ?

-Em muốn điều đó. Em mừng quá.

-Anh mới thật là người may mắn. Cám ơn Chúa.

Bốn năm sau ngày tái ngộ, vợ chồng tôi về VN và ghé thăm Hạ Sĩ Sơn ở Ô Môn, Cần Thơ. Vợ chồng Sơn và 2 con nghèo lắm. Họ ốm nhom, đen thui, và sống bằng nghề làm rẫy. Sơn không dè là tôi và Hân còn sống, lại là vợ chồng, và lại còn nhớ tình nghĩa ngày xưa để đến thăm Sơn. Những giọt nước mắt vui mừng đã không thể kìm hãm được.

Chúng tôi đưa vợ chồng Sơn đi thăm viếng Suối Dây. Hân về nhà cũ, giờ chỉ là một bãi đất hoang với cây cối chằng chịt chung quanh cái nhà xiêu vẹo và mục nát, thắp nhang cho Mẹ. Dòng sông vẫn còn đó, và nước vẫn tiếp tục chảy. Bao nhiêu kỷ niệm dường như sống lại. Trước khi về lại Mỹ, chúng tôi giúp gia đình Sơn một số vốn để buôn bán và chăn nuôi.
 - Sao thấy anh có vẻ thẫn thờ vậy! Cà phê uống được không? Câu hỏi của Hân làm tôi bừng tỉnh. Tôi đáp vội:

- Ngon lắm. Anh cứ mải suy nghĩ về cái Tết năm nào ở SG năm anh học đệ Nhất. - Chuyện cũng đã bao nhiêu năm rồi. À, hay là có cô gái nào trong lớp anh hả?

- Đâu có ai. Cuộc đời anh chỉ có cô Hân ở Suối Dây thôi !!!

Một ngày mùa đông 2020

Nguyễn Vô Danh



Link của trang: Người Con Gái Suối Dây

Bài cũ Trang chủ Bài mới