Chương 5 Người Việt Nam Học Chữ Tàu
Phạm Văn Sơn

Người Vit Nam Học Chữ Tàu

 

 

 

- Vic truyn Hán hc

 

- nh hưởng của Phật Đồ với nn văn hc cũ của chúng ta

 

- Một vài điu sai lầm về Nhiếp

 

 

 

 

1- Vic Truyn Hán Hc

 

Hi Hán thuc, ngưi Việt Nam hc ch Hán, cũng thi cử, cũng đỗ đạt. thể nói rằng tính hiếu hc ca ngưi Việt mt điều đặc biệt, ai ai cũng thánphc. Đi vi cái gì gi văn minh tư ng cho đến c tôn giáo, ngưi Việt rất hoan nghênh chỉ trừ chính sách đô h, thực dân,đế quc thì ở vào tình thế nàongưi Việt cũng chống lại.

 

tiếng trong đám ngưi theo đuổi Hán hc thu xưa là: Tiến, ni Cao Hưng, đấtGiao Chỉ, do tài hc đã giữ đưc chức Thái Sử, khoảng niên hiệu Trung Bình đi Hán Linh Đế (183-189). Cầm ngưi Giao Châu làm túc vệ trong triều Hán (205 trưc T.C-219) sau gi chức Lệ Hiệu Úy. Hai ông này đã tranh đấu để các ngưi trí thức GiaoChâu đưc trọng dng vào các đa vị ngang hàngvi ngưi Tàu. Trương Trọng, ngưi Hp Phố tài biện bác nhanh trí khôn cũng làm mt chức hầu cận vua Hán, sau làm Thái Thú Kim Thành đã biết giữ gìn thể diện quc gia trong khi ng đi vi vua Hán.(Vua Hán mt hôm hi: Dân Nhật Nam đều ớng về pơng Bắc, chầu mặt triphải không? Trương Trng trả li: tên quận cũng nơi gi Vân Trung hoặc Kim Thành, nhưng s thật thế đâu. Quận NhậtNam mặt tri cũng mc đằng Đông...còn chỗ ca quan cũng tùy tiện về pơng ớng hoặc Đông hoặc Tây, hoặc Nam hay Bắc... chớ không nhất định về phíanào).

 

Tinh Thiều cũng mt nhà văn hc thu nhà ơng (505-543) cai tr Giao Châu. Ông không thèm nhận chức Qung ơng Môn Lang do Sài Tiến thưng thư triều Lương đề nghị. Ông lui v quê hương ri giúp Ông Bôn (Lý Bí) năm 544 đánh đuổi TháiS Tiêu lập ra c Vạn Xuân. Khương Công Ph đậu tiến sĩ i đi Đường Đức Tông (789-804) làm quan đến chức Bình Chương (An Nam Chí Nguyên)

 

Chúng tôi gii thiệu đây mấy nhà khoa mc văn hc thời Bắc thuộc để các bạn hiểu s truyền văn hc ca Sĩ Nhiếp. Nhậm Diên, Tích Quang đã tạo nên những đệ tử sau này đến bực nào. Nhưng chắc chắn mun hcđến trình độ cao c thì hc sinh ngưi Việt phải sang tận Trung Quc mi thành đạtln đưc. Dầu sao ta cũng thể nói rằng đưc ăn hc đầy đ, khả ng ca trí thức Giao Ch chẳng kém trí thức


 

 

Trung Quc. Chng c nhiều ni Việt đã từng giữ chức Thái Thú, Thái S Tiết Độ Sứ, do chính ngưi Tàu đặt ra thì ngưi Giao Châu đã làm cho các ơng triều Trung Quc kiêng nể e ngại phải. Lý Tiến, Lý Cầm dâng thư lên vua Hán để đòi đưcđãi ngang vi ngưi Hán đã chỉ căn c vào thực tại ca những trí thức Giao Chbấy gi.

 

Ngoài ra, ta lại nhớ rằng các nhà trí thức trên đây đã dự mt phần quan trng trong việc truyền Hán hc. Thân thế s nghiệpca họ cũng mt điều đã nh hưng cho phong trào Hán hc dưi thi Hán thuc rất nhiều. ngưi cho rng bn ngưi này chỉ tay sai cho các đế quc đi bấy giờ thì sao mi hoạt độngca họ cũng không đáng kể. Xét li phê bình quá nghiệt ngã quá câu chấp, ta nên nhìnnhậnnh ởng ca họ nếu quả họ đã gây đưc mt nh ng nào khả quan; vả chăng trong khi chưa đủ sức chống lại kẻ mạnh thì phải hc đòi cái tài gii ca kẻ mạnh đâu phải chuyện vôích. Còn việc khôi phục đc lập, mưu đồ phú cườngphải chờ thời, tùy thế, chẳng hơn c đóng cửa, ngi nhà c ôm lấy sự u ti sao? Mà thái độ cố chấp tiêu cực có phải mt li khí, mt phương tiện tranh đấu bao giờ đâu!

 

 

2- nh Hưởng Của Phật Đồ Với Nn Văn Hc Của Chúng Ta

 

Đạo Phật lan vào đất Việt qua đường Ấn Độ ơng, do các nhà cai tr Trung

Quốc. Tôn giáo này, du nhập vào xứ sở chúng ta trong thi Bắc thuộc qua ba thi kỳ:

 

A) Từ đầu thế kỷ III đến thế kỷ VI. Ban đầu, KhangTăng Hi (Sogdien Seng Houei --

280), thứ đến Kơng ơng Lâu Chí (Indoscythe Kaliyanaruci -- 255 hoặc 256) ri ti các thầy tu Ấn Độ Ma La Kỳ Vực (Ksudra -- 294) những nhà truyền giáo Phật Giáo

trưc nhất. Sau Mâu Bắc (Meou Po), ngưi Tàu, nghiên cứu Phật Giáo ti Bắc

Việt.

 

B) Sư Ti Ni Da Lưu Chi (Vinitaruci) t năm 580 Bắc Việt giảng dạy tại chùa Dâu về

Thiền Tông lập mt tông phái ở Bắc Ninh lấy danh hiệu xứ đó.

 

C) Ngôn Thông (h Trịnh) sang trú chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, huyện Tiêu Du, tỉnh Bắc Ninh hi tháng 9 năm Đưng Nguyên Hòa thứ 15 (820) tu theo li "Bích Quan" ca Đạt Ma (Bodhi dharma) lập ở chùa đó mt thiền tông mi.

 

Các Phật Đồ kể trên đây trong khi truyền giáo đã gián tiếp giúp rất nhiều cho nền văn hc ca chúng ta bui đầu tiên sut 700 năm. Ri sau Ngôn Thông, nhiều ng ni ra đời.Bn ni này đã phảidùng Hán hc làm cái chìa khóa để mở cửa Phật khigiảng dạy kinh kệ, nếu không thâm thúy v Hán hc đâu thể cắt nghĩa đưc về các điều mầu nhiệm, xa xôi ca Phật Giáo. Ta còn nên nh rằng i triều Đưng bn vị cao tăng (Vô Ngãi tu chùa Thiên Tnh, hạt Cửu Châu, Phụng Đình, Duy Giám...) đã sang cả bên TrungQuc giảng kinh trong cung nhà vua khi già mi trở về nưc.

 

Ngoài ra, tăng gii Việt Nam sau thi Bắc thuộc cũng sản xuất đưc nhiều vị khácnữadự vào văn hc chính gii, đóng những vai trò rất quan trng. Chúng tôi xin kể ở những trang sau.

 

Để kết lun, vấn đề văn hc thời Bắc thuộc chúng ta th tóm tắt nh việc ngưi

Trung Hoa đặt ch quyền trên đất Giao Chỉ, Hán hc đã nh ởng ln lao đến đi


 

 

sng dân tc quc gia ca chúng ta. Dân ta tr nên mt quốc gia văn hiến, nhiều thuần phong m tc. Đó mt điều li ích đại chẳng nên chi cãi. Đem sự đau khổ dưi ách thng trị ca ngoại bang đi lấy mt nền văn hóa sáng sa tt đẹp, ni Việt thức thời chúng ta hẳn không phàn nàn, đã đành rng ni Việt học ch Hán chỉ biết đại khái về văn tử từ chương mà thôi, chớ chưa thật đã đi sâu vào cõi hc thuật và tư ởng ca Trung Quc, huống hồ vào đi Tần Thy Hoàng cácviệc đt sách Nho, chônhc trò (246- 208 tr. C.L.) tất nhiên sách vở đưa sang đây không đầy đủ đưc. Ngưi Việt xưa kiahẳn chỉ bưc ti cái bậc từ chương thôi nhưng trong giớivăn hc bấy giờ cũng nhiều ni tỏ ra thông minhli lạc chẳng kém các danhsĩTrung Quốc, cứ xem việc ớng ha ngoại giao i đi Đại Hành vi Bắc triều sau này đủ rõ. s chép rằng bài thơ tiễn s (tiễn Giác) Giao Ch mt nưc mi mẻ, non nt đã ni tiếng văn hiến đi vi ngưi Tống.

 

 

3- Phật Giáo

 

Ngoài ảnh ởng ca Phật Đồ đi vi văn hc khai thuở ấy,ta còn nên tìm hiểu qua mt vài nét chính ca tôn giáo này s phát triển ca trên đất Trung Quc trưc khi qua Việt Nam.

 

Phật Giáo do đức Thích Ca Mâu Ni xưng lên, ch trương giải thoát con ngưi ra khi điều khổ não là: sinh, lão, bnh, tử. Ngoài bnđiều này đã do Tạo Hóa gây nên trong khicấu tạo con ngưi cũng n khi xây dựng tr. Tạo hóa còn đặt ra những định luật khắc khe sinh phải diệt, hình hài thì phải chịu s hy hoại, suy vong, lại còn bao nhiêu điều đau khổ khác phát sinh bi lòng dc. Lòng dc ca con ngưi là nhng s ham danh lợi, phú quí, sắc đẹp... những nghiệp báo, những căn nguyên ca mi s đe dọa, try lạc. Đạo Phật quan niệm rằng muốn tránh đưc các điều nghiệp báo, oan gia thì ci bỏ lòng dc, thi hành việc thiện ích cho đi, cho đồng loại,cho muôn vật. Nhng hành đng thiên ơng kiếp này s nh ởng tt đẹp cho kiếp sau. Đó luật nhân quả. Trái lại, nếu con ngưicđắm chìm trong dc vọng sẽ phải luẩn quẩn mãi mãi trong vòng luân hi. Ngoài ra,cắt b đưc lòng dục đầy ti li không những ni ta tránh đưccác điều hệ ly ca kiếp này còn đưc hưởng th nhiều về kiếp sau hay s đưc lên cõi Niết Bàn thành Phật. Khi đó sẽ không còn vấn đề sinh diệt nữa.

 

Không tham danh li khi ưu phiền, Niệm chí từbidứt nghiệp duyên, Vt kẻ trầm luân nơi khổ ải,

Noi theo tôn chỉ hi quần tiên.

 

Phê bình đạo Phật về pơngdiệnthực hành ngưi ta cho rng đi vi cuc cạnh tranh đi thực tế nhất trong kỷ nguyên nguyên t này, ch trương nhập thế và xuấtthế ca Phật Giáo không thích hp vi nhân sinh, thế sự. Loài ngưi lúc này chỉ tôn thờ sức mạnh, không triết nào hơn sức mạnh vàquyền li thì mt tôn giáo xây dựng trên căn bản đạo đức thuần túy không thể nào giải quyết đưc mi vấn đề hạnh phúc hòa bình trên thế gii. Ít nhất mi dân tc trên thế gii cùng chấpthuận mt quan niệm tôn giáo hòa bình theo Phật Giáo thì mi kết qu đưc.


 

 

Ci rễ ca đạo Phật đạo La Môn (Brahmane) nhưng tôn chỉ ca đạo Phật lại chống vi đạo này ri hai tôn giáo đã mâu thuẫn nhau trong mt khoảng thời gian khá dài. Sau ba bn thế kỷ, đức Thích Ca mất đi ri,đạo Phật mi ng khi ở Ấn Đ.

 

Đức Thích Ca Mâu Ni, thy tổ ca Phật Giáo đã áp dng lý thuyết ca Ngài trưc hết (sau cái quan niệm: đi sông mê, b kh...), Ngài thuc dòng vương tc Ấn Đ, có vợ con. Ngài đã bỏ lầu son gác tía đi tìm đạo, mc đích dìu dắt ngưi đi ra khi cảnh trầm luân đày đa. Theo đạo phái miền Bắc Ấn Đ, Ngài sinh năm 1028 (trưc Thiên Chúa) vào đi Chu Chiêu vương. Đạo phái miền Nam cho rằng Ngài sinh khong

624. Nhưng theo các nhà bác học ngày nay thì Ngài đng thời vi Khng Phu Tử nghĩa là Ngài xuất thế vào năm 558 hay 520.

 

Đi vua Hán Vũ Đế (140-86 trưc CL), quân nhà Hán đánh hung nô lấy đưc ợng kim nhân thấy ni Hung thắp nhang thờ phật, đến đi vua Ai Đế Công lịch năm thứ hai, vua Hán cho Tần Cảnh Hiến sang x rợ Nhc Chi hc truyền khẩu các kinh phật. Ngưi ta thấy tôn giáo này nhiều tt đẹp cũng muốn vãn hi nhân tâm, thế tc nên nhập cảng Phật Giáo vào Trung Quc. thể vãn hi nhân tâm thế tc không phải chỉ phc hưng tinh thần đạo đức trong đám dân chúng mà còn cả trong giai cấp phong kiến, quí tc từ ngàn năm trưc đã cuộc tranh giành quyền vị mà gây nên bao nhiêu cuc đảo ln hi, thảm cảnh máu đổ thịt rơi. Các nhà chính trịxưa hoặc nay đều thưng nhìn các tôn giáo vào điểm này trưc hết, còn những ngưi thưng chỉ lưuý vào triết luân ca nó.

 

Ri Phật Giáomi ngày mt đi rng trên đất Tàuqua các triều đại. Vua Minh Đế nhà Đông Hán phái Ban Siêu đi s các nưc Tây Vực, Hán s báo cáo tình hình Phật Giáo thnh hành đây nên sau đó nhà vua c Thái Am sang Tây Trúc mi các thầy ng Ấn Độ về c để thuyết giáo tại TrungQuc. Thái Am mang v đưc 42 chương kinh. Đến đi Tam Quc mi ngưi giữ việc truyền đạo Phật. Việc sưu tầm kinh kệ càng ngày càng mnh ri các kinh kệ đưcdịchra ch Tàu để phổ biến khắp dângian. Đến đi nhà Đưng (630) nhà sư Huyền Trang (tc gọi Đưng Tam Tạng) cũng qua Ấn Độ vi s mạng là khảo cứu Phật Giáo và đem về Tàu đưc 650 bộ kinh. Bnơi hai năm sau, i đi Đưng Cao Tông, ông Nghĩa nh c về đưc400 bộ nữa.

 

 

4- Mt Vài Điu Sai Lầm Về Nhiếp

 

Chép thân thế s nghiệp ca Sĩ Nhiếp, mt ơng lại tiếng thời Bắc thuộc, trọng nhậm c ta giữ bui loạn ly, nhiều nhà chép s đã đề cao mt cách quá đáng vị quan cai tr này: ngưi ta tôn Sĩ Nhiếp lên bậc ơng; có ngưi tặng Sĩ Nhiếp mt sự nghiệp đại hơn nữa: "Nam Bang Hc T". Ngưi ta còn gi thi Sĩ Nhiếp cai trị đất Giao Chỉ mt Kỷ: "Sĩ Vương Kỷ"!

 

Chúng tôi không ph nhậnsnghiệp đáng kể ca Sĩ Nhiếp trong sut nửa thế kỷ cai trị c ta, nhưng chúng tôi mun đính chính nhng điều gì không đưcxác thực, bng những dòng i đây:

 

Năm Quí Mùi (203), là năm thứ ba đi vua Hán Đế, Sĩ Nhiếp bấy giờ làm Thái Thú cùngvi Thái S Trương Tân xin Hán Đế đi Giao Chỉ ra Giao Châu. Lúc này Trung


 

 

Quốc giặc p ni lên lung tung, ở Giao Châu cuc ri loạn cũng nhóm lác đác ở nhiều i. Sĩ Nhiếp đã khéo léo trong việc cai trị, hp anh em trong nhà, chia nhau gi các châu quận, nên lại khôi phc trật tự Giao Châu.Ngoài ra, ông khôn ngoan đi vi Hán triều (ông vẫn giữ lễ tiến cng) nên đưc phong làm An Viễn ớng Quân Long Độ ĐìnhHu. Sau này, nhà Đông Hán đ, Trung Quc lâm vào thành thếchân vạc do sự tranh giành ảnh ởngca ba nhà: Bắc Ngụy, Tây Thc Đông Ngô, thì Giao Châu nằm trong khu vực Đông Ngô, Sĩ Nhiếp liền theo Đông Ngô. Ông vẫn giữ đưc miquyền hành n Hán triều xưa kia. Tính ra tuy không Thái S nng ông đã làm đưc mt sự nghiệp đáng kểở Giao Châu sut 40 năm ròng. Chính tr ca ông rất khéo léo ởchỗ ông biết an dân, trọng đãi trí thức, đưc toàn th nhân dânủng hộ tôn sùng nên đa vị mi bền vững đưc lâu dài như vậy. Còn đivi các Vương triều TrungQuốc, gió chiều nào ông che chiều y. V việc ngưi ta xưng ông hc tổ Nam Bang, đólà theo tronglệnh chỉ ca Trịnh Tạc (1657-1682) ca TrịnhSâm (1767-1782) chép trong quyển Sĩ Vương S Tích trang đầu, bản sao ca trưng Bác Cổ số A 426 tờ

41b 46a -- Trong bia đá làng Tam Á làng Lung Khê ph Thuận Thành, tnh Bắc

Ninh, ông Nguyễn Hoán, đỗ Thám Hoa, khoa Kỷ Dậu (1659) cũng ghi n vậy.

 

Sự thực trong chính sử khôngthấy chép Sĩ Nhiếp đem ch Nho sang Việt Nam, ngoài câu: "Nưc ta thông thi thư, tập lễ nhạc, gi văn hiến bắt đầu từ Sĩ Vương"bi văn hóa Trung Quc nhập cảng vào Giao Châuđã từ ba thế kỷ trưc khi cóSĩ Nhiếp. Ti khi Sĩ Nhiếp cầm quyền c ta ngưi Giao Châu đã mt số đỗ Hiếu Liêm Mậu Tài ri. chỗ tôn thi Sĩ Nhiếp thờ Sĩ Vương Kỷ, lẽ sử thần giận trong khoảng

100 năm quan lại Tàu không cóngưi chính thng trong sạch, nay gặp mt nhân quan như Sĩ Nhiếp, dân đưc yên vui hơn 40 năm cho nên đã tôn Sĩ Nhiếp Vương.

 

Sĩ Nhiếp tuy tiếng quan cai tr cả 7 quận nhưng thực ra ông chưa hề nắm đưc toàn cõi Giao Châu bao gi. Trong đi Sĩ Nhiếp, chính Trương Tân mi ngưi đưc vua Hán Hiến Đế phong làm Thái S Giao Châu. Ta nên nh châu cai tr quận. Còn về ảnhng thì lấy sự công bằng Đào Hoàng bn đi, Đỗ Viện ba đi làm Thái Sử, đc quyền cả Giao Châu còn nhiều ơn ích hơn Sĩ Nhiếp.

 

So sánh vi các ơng lại kể trên đã lấy việc lễ nghi, điều nhân nghĩa dạycho dân Giao Chỉ Cửu Chân để ngưi ta biếtđạo vợ chồng, nghĩa cha con, tình thầy trò,bng hữu biết thương yêu kính mến nhau, s nghiệp ca Sĩ Nhiếp chưa dễ đã hơn, vậy h chưa đưc chép riêng ra mt kỷ.

 

Còn điều Sĩ Nhiếp đưc gọi Sĩ Vương, là do triều Trần phong ông làm Đại Vương theo lệ phong tặng bách thần, sau Ngô Sĩ Liêm i đi đã nhân c Đại Vương mà chép Sĩ Vương. Dù sao chúng ta cũng phải nhận rằng việc tôn kính Sĩ Nhiếp n thế cũng mt vài phần đích đáng, do ông đã dựng chính sáchnhân nghĩa đi vi dân ta xưa kia. Còn chuyện ông đã đem ch Nho sang dạy ta đầu tiên thì không bng chng. Đây ý kiến ca Ứng Hòe Nguyễn Văn T.



Link của trang: Chương 5 Người Việt Nam Học Chữ Tàu

Bài cũ Trang chủ Bài mới