Khôi An
Anh Bé đi tù tháng 6 năm 1975, sau đó tôi chỉ nhận được ba lá thư của anh. Lá cuối cùng đề tháng 2, 1976, gởi từ trại Suối Máu, Biên Hòa. Sau đó, anh bặt tin. Tôi chờ đợi mòn mỏi, lên xuống trạm công an cả chục lần, hỏi gì họ cũng trả lời không biết. Cuối cùng, tôi nhất quyết làm đơn khiếu nại. Cả chục lá đơn gởi tới trại tù Suối Máu đều như biến vào khoảng không.
Một đêm cuối tháng Mười, trên Khách Sạn 22 xuất hiện vài khuôn mặt lạ. Họ tự giới thiệu là phóng viên của báo San Jose Mercury News, nghe nói về nơi này và muốn tìm hiểu thêm. Lisa không muốn nhắc đến chuyện không có nhà nên kéo chăn che mặt, làm bộ ngủ. Ba chỉ miễn cưỡng trả lời vài câu hỏi và không đưa tên tuổi gì hết.
Mặc dù Zoom rất dễ dùng, mặc dù nhà trường gửi thư tới tấp để chỉ dẫn và còn cho học sinh mượn máy tính để học, nhưng lớp nào cũng chỉ có khoảng nửa số học sinh trở lại. Số còn lại có hai trở ngại lớn, thứ nhất là những người sống trong những khu chung cư cũ kỹ, nối kết với internet chậm chạp, khó khăn, thứ hai là những người lớn tuổi ngần ngại, không muốn học sử dụng máy tính.
Đó là một ngày tháng Ba năm 1975. Chung quanh tôi, trên sàn căn apartment, mười mấy người ngồi quanh cái TiVi nhỏ (đó là cái TiVi màu duy nhất trong đám chúng tôi). Đây là khoảng một phần ba sinh viên Việt Nam ở Houston, Texas. Vào lúc đó, cả Houston có khoảng sáu mươi người Việt gồm khoảng bốn mươi sinh viên và đâu đó hai mươi phụ nữ Việt sang Mỹ theo chồng.
Bố tôi thích văn chương, và thích ăn phở. Tôi thừa hưởng của Bố cả hai điểm này. Tôi nghe nói có nhiều người ghiền phở, có thể ăn phở thay cơm cả tuần lễ. Bố và tôi thì không tới "đẳng cấp" đó, nhưng nếu phải ăn phở liên tiếp mấy ngày chắc tôi sẽ không thấy khổ sở, khó khăn gì lắm. Mẹ tôi thì lại không thích phở.
Thường thì chúng tôi hay “xem lại vết thương” khi tháng Tư về. Nhắc những khổ sở, đau đớn, cay đắng, sững sờ, phẫn uất của thời đổi đời đen tối. Nhắc để tưởng niệm ngày quê hương thứ nhất, Việt Nam, bị đẩy vào một chuyến tàu lao xuống dốc mà đến giờ vẫn chưa thấy dấu hiệu ngừng lại. Tháng Tư đến rồi đi đã mấy chục lần
Ngày ấy, báo Xuân thường được phát hành gần ngày ông Táo về Trời, hai mươi ba tháng Chạp. Sài Gòn có khoảng ba mươi tờ nhật báo và cỡ một chục tờ nguyệt san, bán nguyệt san. Tờ nào cũng cố gắng làm Giai Phẩm Xuân, nên người đọc có gần bốn mươi tờ báo Xuân để chọn lựa và thưởng thức Ngoài ra, còn có những tờ báo Xuân không bày bán ngoài đường nhưng cũng được trân trọng không kém, đó là Báo Xuân Học Trò.
Trong tâm hồn người ta, có lẽ có một khoảng ở mãi thời niên thiếu. Khoảng đó lớn hay nhỏ, tùy theo mỗi người, nhưng tôi tin rằng ai cũng có. . Bởi vì chúng tôi - trong đó có những người đã xa nhau ba mươi năm và chưa hề gặp lại - vẫn thường xuyên nhắc chuyện xưa, vẫn gọi “mày”, xưng “tao”, và vẫn cười thích thú với những câu chuyện được lặp lại tới lần thứ mấy mươi.
Không hiểu chị tôi đã nghe tin về ông bằng cách nào.Thời đó, đầu thập niên tám mươi, mọi phương tiện truyền thông đều thuộc về nhà nước Cộng Sản, quanh năm suốt tháng báo chỉ đăng tin “nước ta đang trong thời kỳ quá độ…” Kiểu dùng chữ như vậy mọi người phải chịu đựng mãi nên đỡ thấy quái đản. Người đọc cứ tự điền vào chỗ trống thành “nghèo quá độ”, “đói quá độ”
YêuNướcViệtNam.org