Nguyễn Ngọc Tư
Rồi một trưa đầy nắng, mây trên trời xanh lẻo xanh lơ, trước giờ ca cải lương, đài truyền thanh xã gởi đi lời xin lỗi của chính quyền đối với công dân Dương Văn Nhỏ. Đơn giản, gọn hơ, nhẹ nhỏm.Ông Tư lúc đó đang móc đất nắn trâu cho thằng Sáng chơi, khóc hức lên vì không cầm lòng được, sao kỳ vậy cà, người ta đã giải oan cho mình rồi, đã xin lỗi mình rồi sao mình vẫn mãi đau.
Thêm một mùa gió bấc nữa, chị Hảo vẫn chưa lấy chồng. Ai lại cũng hỏi, chị chờ ai vậy cà. Chị bảo chờ người ta xức dầu Nhị Thiên Đường của chị mà hết đau, chờ người ta đánh cờ mà trong tâm " Viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh niết bàn" , chờ người ta thôi buồn khi đưa chốt qua sông. Nhưng mà chờ tới chừng nào lận?
Ở quê mình nhà nào cũng có cửa sau. Mỗi khi đi xa, nhớ ba nhớ má, nhớ nhà, nhớ luôn cái ngạch cửa trước, nhớ cái chái cửa sau. Người ta đưa hai tiếng cửa sau vào ngoặc kép, “cửa sau” làm nhà nước thất thoát hằng tỉ tỉ đồng, mồ hôi nhân dân đổ xuống nhiều hơn, nước mắt vì nỗi nhọc nhằn cạn đi (còn đâu nữa mà rơi). “Cửa sau” làm người ta không trọng nhau, không thương nhau, không tin nhau.
Ngó mớ tựa rất kêu kiểu như “làm giàu không khó”, “Hai mươi bảy cách trở thành tỉ phú”, chị biết trong đó không có câu nào khuyên người ta biết thả lỏng tắm mình trong mùi hoa ban đỏ trong đêm. Mùi hoa nhẹ lắm, hít thở nhanh không cảm nhận được. Người giàu nhiều, mà đất nước vẫn nghèo, là vậy. Tới cái nắp cống ngoài đường cũng bị lấy cắp. Ai cũng vơ vét cho mình, sẵn sàng ôm tiền bỏ chạy.
Quán cà phê “Đầu Xóm”, cái tên như cặm một cây thắc mắc, đầu xóm là đầu xóm nào, tại sao là đầu xóm mà lại nằm chặng giữa con hẻm gầy tong teo, ngoằn ngoèo giữa lòng thành phố? Sớm nay góc quán nơi ông già bán vé số ngồi nhâm nhi trà đá, như cái nhánh thắc mắc, ông đó uống trà đá mà sảng khoái, khoan thai thưởng thức từng ngụm, như sợ hết.
Hồi tháng Tám, Văn có tham gia một đoàn thực tế sáng tác về đầm Đìa. Chuyến đi rất hào hứng, vì chỉ nghe cái tên đất thôi đã ấn tượng, nghe buồn, ướt làm sao đâu. Trời lồng lộng. Người ta thắp bao nhiêu là đèn, họ treo đầu lú, ở cửa chòi. Đầm nước rực lên như một thành phố nhỏ, lấp loáng, mộng mị… Cùng với hai nhà thơ cấp huyện khác, Văn sẽ qua đêm trong một căn chòi nằm gần bờ lá.
Những mùa nước cứ nhịu lẫn, chồng nhòe lên nhau, cũng bão cơn nối cơn, cũng ngập tới nóc, người với vật cùng nổi trôi, và những đứa trẻ mang tên Lụt, Lội, Gió, Giông chào đời trên xuồng cứu hộ, hết thảy mấy thứ đó không làm sao phân biệt một cách rõ ràng nữa. Tuần nắng mật đầu tiên, cả xứ như bị trúng bùa. Mấy con chó cứ ẳng lên không lý do, ai đó nói trời đẹp quá mà, người ta còn muốn sảng.
Những trưa nắng gia đình chú tạt vào hiên chợ Bách Hóa, nghỉ chân. Con Như lãnh tiền, chạy đi mua cơm về ăn. Họ ngồi giữa ngọn gió mát lồng lộng. Chú Đời lúc nào cũng ngồi ăn chậm rãi, nghe ngóng chung quanh như canh chừng, như bảo vệ bữa ăn thiêng liêng của nhà mình. Chú nghe tiếng đũa khua tinh tang, cuống quít lên miệng chén là biết đứa nào đói đứa nào không.
Những ai đã đi xa Sài Gòn, nuối tiếc thời quá vãng mà lên tiếng dèm pha chê bai Sài Gòn của-bây-giờ, cũng không trách họ được. Chỉ thương Sài Gòn vẫn lặng lẽ chịu đựng, và phải cố gắng gấp đôi thế để bao dung hết thảy những lời bỉ bôi. Vậy cho nên, những ai đang ở đất Sài Gòn, xin hãy thương lấy vùng đất này bằng cách đừng làm nó xấu thêm bằng chính những hành động của mình.
YêuNướcViệtNam.org