Nguyễn Trần Diệu Hương
Ai nấy đều phát tướng ra, chiều cao có bị mai một chút ít theo năm tháng, nhưng chiều ngang thì bành trướng thấy rõ, trọng lượng tăng lên tỷ lệ thuận với tuổi đời như quy luật tự nhiên "what is going up, will be down" của tạo hóa, của một đất nước calories nạp vào từ thức ăn thường vượt trội calories tiêu thụ từ hoạt động hàng ngày.
So với nỗi khổ của con nhỏ "Bullhead" thì bao nhiêu tên mà bạn bè đặt cho Chanh hồi nhỏ xem ra còn "nhẹ nhàng" và "nương tay" hơn nhiều. Thì ra ở đâu cũng vậy, lúc còn nhỏ, con nít ở Việt Nam hay ở Mỹ đều nghịch ngợm đôi lúc hơi "nhẫn tâm" với những cái tên hơi là lạ. Lớn lên, khôn ra, hiểu biết hơn, những cái tên đặc biệt được mọi người trân trọng vì thường thì có cả một "trời quê hương" được gởi vào đó.
Hầu hết mọi người đến cái chợ chòm hổm này mỗi thứ bảy, mua thức ăn chỉ là lý do phụ, lý do chính là để thấy lại một góc quê nhà ở quê hương thứ hai. Người Nga tìm mua được mấy con búp bê matryoshka doll, con nhỏ nằm trong lòng con lớn. Người Trung Đông mua được loại đậu Fava quen thuộc. Người Pháp tìm mua được croissant nho nhỏ kiểu Pháp. Và người Việt Nam như tôi tìm thấy rau mồng tơi xanh ngát của quê nhà.
Lúc đó là một buổi trưa thứ Bảy giữa mùa thu, lễ Thanksgiving đang đến rất gần, trời mưa không lớn lắm nhưng đủ để giữ chân nhiều người trong quán cà phê Starbucks lâu hơn thường lệ. Qua khung cừa kính, mọi người đều thấy hình ảnh một người da trắng ân cần bưng thức ăn đến cho một người da đen không nhà, có kèm theo một thẻ mua thực phẩm biếu tặng từ một người da vàng.
Những năm đầu ở xứ sở tự do, không có quan hệ ngoại giao giữa hai quê hương, nên tưởng như không còn có ngày về, không biết đến thủa nào mới gặp được Ba Mẹ. Nhưng nhờ bận rộn, đầu tắt mặt tối với học hành và kiếm sống từ khởi điểm zéro, nên cả bầy con chỉ nhớ Ba Mẹ mà không buồn lắm. Những lúc gặp khó khăn thì tự nâng mình lên bằng "kinh nhật tụng" của Ba Mẹ suốt thời thơ dại.
Đó là mùa hè năm 1974. Chỉ một năm sau, là biến cố 30 tháng 4 1975 rất buồn của đất nước , chúng tôi cũng bị cuốn theo cùng vận nước, lưu lạc khắp nơi. Và không bao giờ có dịp gặp lại người thương binh đã bỏ cặp mắt lại chiến trường An Lộc Không biết bây giờ anh còn sống, hay đã "trả xong nghiệp" như anh đã nói với chúng tôi, bầy học trò nhỏ tắm sông ở Cù Lao Phố năm xưa.
Rồi biến cố tháng 4 năm 1975 cuốn đi mọi thứ, cái xóm bình yên của chúng tôi tan tác. Chính quyền mới đến từng nhà đọc "lệnh đuổi nhà" bắt chúng tôi dọn ra khỏi nhà để trả lại nhà cho nhân dân. Nhưng nhân dân không bao giờ được ở, sau khi chúng tôi đi, các "cán bộ" dọn vào, phá hỏng mấy giàn hoa để lấy chỗ trồng khoai mì và rau muống.
"Cuối cùng, khi con 50, 60 hay già hơn nữa, mọi người sẽ quên đi những cái huy chương, những cái bằng cấp, và những hào quang quanh nó nhưng người ta sẽ không bao giờ quên con như một con người. Cuộc đời không bao giờ dễ dàng, con phải chiến đấu và không bao giờ bỏ cuộc."
Đâu có cần phài giống nhau về quan điểm chính trị, tôn giáo, hay nhân sinh quan để cùng ngồi nói chuyện với nhau về một sáng tác có giá trị được rất nhiều người thuộc nhiều thế hệ biết đến. Vì lẽ đó chúng tôi đến thăm thi sĩ Phạm Thiên Thư như một lời cảm ơn một tác giả đã góp vào thi ca và âm nhạc Việt Nam hai bông hoa rực rỡ không tàn “Ngày xưa Hoàng Thị” và “Động Hoa Vàng”.
YêuNướcViệtNam.org