Phạm Thành Châu
Hắn đi ra phía bờ sông, tìm một thềm đá bên sông An Cựu, ngồi lặng nhìn giòng sông. Buổi chiều vắng vẻ, êm đềm. Hai bên bờ sông không một bóng người, chỉ có hàng cây đang nghiêng mình, soi bóng trên mặt nước. Hắn nghiệm ra, đời hắn và mối tình của hắn, cũng chỉ như giòng nước đang lặng lờ trôi, đã qua rồi thì không có cách nào trở lại được. Không còn gì.
Miền Trung VN là một dải đất hẹp, một bên là núi, một bên là biển, có nơi, núi lấn sát biển đến độ đường quốc lộ phải chạy dưới chân núi, mấp mé bờ biển, còn xe lửa phải chui vô hầm để qua bên kia núi. Có một thị trấn nằm sát bờ biển như thế mà núi chỉ cách thị trấn một con sông nhỏ. Bên kia sông là đường xe lửa, bên nầy là quốc lộ cũng là đường phố chính của thị trấn
Đây là chuyện cổ tích đẹp nhất trong những ngày buồn thảm nhất của nước Việt Nam Cộng Hoà. Cũng còn nhiều chuyện cổ tích sáng ngời hơn, đẹp đẻ hơn, ai cũng biết nhưng không bao giờ kể ra. Đó là quả tim của những bà mẹ, những bà vợ, những người con giành trọn cho con, cho chồng, cho cha đang chết dần mòn trong ngục tù cộng sản.
Họ cố gắng làm lụng, dành dụm được nhiêu, gửi hết về cho gia đình bên xứ họ, để mua nhà cửa, ruộng vườn hoặc kinh doanh, khi nào chán xứ Mỹ, họ về lại quê hương sống sung sướng. Trẻ con Mễ sinh ra trên đất Mỹ học không giỏi lắm, ít đứa vào đại học. Hết trung học là chúng nghỉ học để kiếm việc làm chứ không nghỉ học để quậy phá
Chúng tôi có sáu đứa con, ba trai, ba gái. Nếu vợ tôi không cằn nhằn thì giờ đây tôi có thể khoe có hơn chục đứa không chừng. Dĩ nhiên con cái đông phải cắm cổ mà cày, thấy mình còn thua con trâu, nhưng bù vào đó là cái thú được hi sinh cho con cái. Thỉnh thoảng ngó lại, ngạc nhiên thấy con mình sao mau lớn quá, áo quần đứa trước đã phải để cho đứa sau mặc rồi.
Tôi làm tình báo vì có máu phiêu lưu, thích chuyện mạo hiểm, sau nầy lại thêm mối thùviệt cộng giết cha tôi. Ông già tôi là chủ một nhà máy xay lúa nhỏ ở vùng quê tỉnh Bạc Liêu. Vì là vùng mất an ninh nên phải đóng thuế cho việt cộng, ấy vậy mà cũng bị chúng nửa khuya đến gõ cửađem ra đồng bắn bỏ. Cả mấy năm sau, tôi cố tâm điều tra mới biết rõ thủ phạm là một tên nằm vùng
Trước bảy lăm (1975), vị nào thẩm phán, chắc cũng biết. Hễ xử án, nhất là về dân sự, thì phải có bên được bên thua, cùng lắm thì huề. Vậy cũng chưa hay. Tôi xử, hai bên đều (tưởng rằng mình) thắng mới tài. Tuy lúc đó, với cương vị phó Quận hành chánh, tôi chỉ có quyền hòa giải là tối đa. Tôi tốt nghiệp đốc sự Quốc Gia Hành Chánh, được bổ về tỉnh Thừa Thiên, tỉnh “Sự vụ lệnh”
Năm 1981, tôi đi tù cải tạo về. Tôi không về với gia đình ở ngoài Trung mà sống chui nhủi ở Sài Gòn. Tù “ngụy” ra khỏi nhà tù vẫn bị Công an theo dõi, hạch sách. Mỗi tuần phải đến Công an trình diện, nộp báo cáo trong tuần làm gì ? tiếp xúc với những ai ?... Nhưng tôi là “dân lậu” (không giấy tờ) không phải làm chuyện đó.
Sau năm 1975, mấy ông bà quân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị đi tù cải tạo. Nghĩa là khổ sai biệt xứ (đày ra vùng núi rừng Tây Bắc Việt Nam) hàng chục năm, chết như rạ vì lao động quá sức, vì đói lạnh, vì bịnh tật mà không thuốc men. Nhưng quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa, còn may mắn, vì sau hàng chục năm tù
YêuNướcViệtNam.org