Tùy Bút
Sau thời gian phục vụ tại Sư Đoàn 5 Bộ Binh, tôi được thuyên chuyển về Trường Bộ Binh Thủ Đức, theo nhu cầu hoán chuyển các sĩ quan có kinh nghiệm chiến trường về các quân trường. Chức vụ sau cùng là trưởng phòng Phòng Kế Hoạch của Trường Bộ Binh. Trường Bộ Binh là một quân trường chuyên đào tạo các sĩ quan trừ bị cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Lúc trước trường tọa lạc ở Thủ Đức. Đến đầu năm 1974 thì dời ra Long Thành,
Ôi tiếng súng nổ rền vang trên khắp lãnh thổ. Mùa hè năm 1972, nhà văn Phan Nhật Nam đã mệnh danh là mùa hè đỏ lửa. Mùa hè máu. Mùa hè cuối đầy yêu đương. Mùa hè tận cùng vực thẳm. Còn mùa hè 30/4/1975 bi thương thê thảm ngần nào? Chúng ta còn đủ ngôn từ để diễn tả tận cùng nỗi thương tâm kinh hoàng của sinh ly, từ biệt, cuống cuồng ấy không? Tin thất trận từ các Vùng 1,2,3 bay về dồn dập. Có những nơi chưa đánh đã bỏ cho địch tràn vào. Cũng có nơi quyết liều tử chiến. Thảm thương thay, cuộc rút quân hỗn loạn bi đát chưa từng có trong lịch sử và quân sử.
Khi tôi về, số người được ra trại còn hiếm lắm. Những năm làm quen với cuộc sống mới khiến cho nhiều người miền Nam có cái nhìn khác hẳn về chế độ Cộng Sản, nói theo sách vở thì là có dịp đối chiếu thực tế và lý thuyết. Phải nói rằng phần lớn chúng ta khá ngây thơ vì được đào tạo trong một nền giáo dục trắng đen rõ rệt, xấu tốt rạch ròi trong khi kẻ địch lại nói và làm khác nhau, suy nghĩ một đằng, hành động một nẻo. Gần nhà tôi có “bác Tư cơm tấm
Sau ba mươi hai năm sống trên đất Mỹ, tôi vẫn nhớ hoài tiếng thở dài của ba, cái quay đầu buồn bã của ma, khi nhìn tủ thờ ông bà bị “những người thắng cuộc” ngạo nghễ tịch thu. Đồ thờ trong tủ, từ hình ông bà cùng bình bông, lư hương, bị họ gạt xuống để nằm bù lăn bù lốc xuống đất, rồi mang tủ đi. Đêm đó, cả nhà đều khóc.
Ôi tháng tư đen! đời đen như cục than đen bắt đầu từ những ngày tháng đó. Cho đến một ngày cuối tháng tư cả nước cùng nghe chung một tiếng loa của “phe thắng trận” với “đại thắng mùa Xuân”! Những ngày mà “đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ, nón tai béo che khuất nẻo tương lai ”
Bốn mươi hai năm qua rồi, nhắc lại thêm ngậm ngùi, đau đớn. Bao nhiêu mạng người đã bỏ thây trong Cuộc Chiến, trên con đường chạy loạn 30/4/1975. Bao nhiêu xác người Tù Cong San bị bỏ thây trên rừng thiêng nước độc. Bao nhiêu xác người bị chết trên biển đông và trong bàn tay của hải tặc. Bao nhiêu ? va bao nhiêu ?
Mái đầu xanh của những người lính trẻ năm nào giờ đã điểm trắng màu sương. Nắm xưong tàn của đồng đội gục ngã trong cuộc chiến tương tàn cốt nhục giờ hẵn đã nhạt nhòa theo cát buị! Tháng Tư, tháng của đau thưong, đất trời hận tủi; tháng của những đêm dài tăm tối, không-còn-thấy-ánh-mặt-trời! Xin một giọt nước mắt khóc cho quê hương điêu tàn, tang tóc.
Sau 42 năm nhìn lại, chúng ta có rất nhiều những trang Sử mới. Trên hết, mỗi một cái chết của thuyền nhân, của tù cải tạo, của người Quốc Gia chết cho Tự Do là một trang Sử mới được cộng vào. Tất cả con dân Việt đều phải học Sử Việt.
Tháng Tư, nói gì xa xôi và dài dòng, chính phủ Canada vừa đồng thuận: “Tháng ấy đánh dấu niềm đau thương khó phôi pha của cộng đồng người Việt”. Canada. Vết thương dường như chưa thành sẹo, hằng năm cứ đến thời điểm này ta lại phải đọc những nỗi muộn phiền nhắc tới cơn băng giá chưa tan, hoa ủ dột trong vườn lộng gió chướng. “Vắng mợ chợ vẫn đông lời kinh khổ”.
YêuNướcViệtNam.org